Thu nhập từ chứng khoán trên sàn nước ngoài đóng thuế như thế nào?

Câu hỏi:

Xin hỏi LuatVietnam:Tôi là người Việt Nam, có tham gia chơi chứng khoán ở thị trường nước ngoài. Xin hỏi tiền lãi từ việc chơi chứng khoán đó tôi sẽ phải đóng thuế như thế nào? Tôi có phải kê khai quyết toán thuế TNCN đối với nguồn tiền này không? Xin cảm ơn!

Trả lời:

1. Giải thích từ ngữ

Theo Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 quy định: “ Chứng khoán là tài sản bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký, chứng khoán phái sinh và các loại chứng khoán khác do chính phủ quy định.”

Chơi chứng khoán hay đầu tư chứng khoán được hiểu là việc bạn đầu tư vào cổ phiếu và các tài sản được nằm trong chứng khoán. Sau đó thực hiện mua vào hoặc bán ra để thu lợi nhuận.

 

2. Giải đáp tình huống

2.1 Vấn đề nộp thuế

Theo điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định 65/2013/ND-CP quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là: “ Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập

- Trong trường hợp trên thì bạn là người có quốc tịch Việt Nam, có thu nhập phát sinh ngoài lãnh thổ Việt nam( tiền lãi của việc chơi chứng khoán ở thị trường nước ngoài) là đối tượng chịu thuế TNCN.

Tại điểm b Khoản 4 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC và Điều 4 Thông tư 25/2018/TT-BTC quy định các khoản thu nhập chịu thuế như sau:

Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, bao gồm: thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán. Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu của các cá nhân trong công ty cổ phần theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật Chứng khoán và Điều 120 của Luật Doanh nghiệp.”

- Trong trường hợp trên thì số tiền bạn có được từ việc chơi chứng khoán là một khoản thu nhập phải chịu thuế TNCN theo quy định của pháp luật.

Từ các căn cứ nêu trên, có thể xác định khoản thu nhập phát sinh từ việc chơi chứng khoán ở thị trường nước ngoài của bạn phải chịu thuế TNCN, và cách tính thuế thu nhập cá nhân được tính như sau:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 5 Nghị định 135/2015/NĐ-CP: cá nhân Việt Nam khi tham gia chơi chứng khoán tại thị trường nước ngoài thì nhà đầu tư cá nhân chỉ được thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài dưới hình thức tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành tại nước ngoài, do đó nhà đầu tư là cá nhân chỉ có thể đầu tư chứng khoán nước ngoài thông qua các công cụ phái sinh. Do đó, khoản thu nhập thu được từ việc chơi chứng khoán ở thị trường nước ngoài sẽ được tính như thu nhập từ việc chuyển nhượng chứng khoán tại Việt Nam(Vì các sàn trung gian đó chính sẽ nộp thuế tại cơ quan nước ngoài)  và cách tính thuế thu nhập cụ thể là:

Theo Thông tư 92/2015/TT-BTC, tại Điều 16 sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 2 Điều 11 Thông tư số 111/2013/TT-BTC quy định như sau:

Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần.

Cách tính thuế thu nhập cá nhân từ chứng khoán:

+ Đối với cá nhân cư trú thuế thu nhập từ chứng khoán được tính như sau:

Thuế thu nhập cá nhân phải nộp = giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần x thuế suất 0,1 %

Trong đó:

Giá chuyển nhượng chứng khoán được xác định như sau:

* Đối với chứng khoán của công ty đại chúng giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán, giá chuyển nhượng chứng khoán là giá thực hiện tại Sở Giao dịch chứng khoán. Giá thực hiện là giá chứng khoán được xác định từ kết quả khớp lệnh hoặc giá hình thành từ các giao dịch thỏa thuận tại Sở Giao dịch chứng khoán.

* Đối với chứng khoán không thuộc trường hợp nêu trên, giá chuyển nhượng là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng hoặc giá thực tế chuyển nhượng hoặc giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có chứng khoán chuyển nhượng tại thời điểm lập báo cáo tài chính gần nhất theo quy định của pháp luật về kế toán trước thời điểm chuyển nhượng.

+ Đối với cá nhân không cư trú thuế thu nhập cá nhân từ chứng khoán được tính theo công thức như sau:

Thuế thu nhập cá nhân phải nộp = tổng số tiền được nhận từ chuyển nhượng chứng khoán tại các tổ chức, cá nhân tại  việt nam x thuế suất 0,1 %

Trong đó: Tổng số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được từ việc chuyển nhượng chứng khoán tại các tổ chức, cá nhân Việt Nam là giá chuyển nhượng chứng khoán (là số tiền nhận được theo hợp đồng chuyển nhượng chứng khoán và được xác định như mục 1), không trừ bất kỳ khoản chi phí nào kể cả giá chứng khoán.

Đối với trường hợp nhận cổ tức bằng cổ phiếu: Trường hợp nhận cổ tức bằng cổ phiếu, cá nhân chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân khi nhận cổ phiếu,  tuy nhiên, khi chuyển nhượng số cổ phiếu này, cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, cụ thể thuế thu nhập cá nhân cổ phiếu được tính theo công thức như sau:

Thuế thu nhập cá nhân phải nộp = Giá trị cổ tức ghi trên sổ sách kế toán hoặc số lượng cổ phiếu thực nhận x mệnh giá cổ phiếu đó x thuế suất 0,1 %

Trường hợp giá chuyển nhượng cổ phiếu nhận thay cổ tức thấp hơn mệnh giá thì tính thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động đầu tư vốn theo giá thị trường tại thời điểm chuyển nhượng.

Sau khi nhận cổ tức bằng cổ phiếu, nếu cá nhân có chuyển nhượng cổ phiếu cùng loại thì khai và nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cổ tức nhận bằng cổ phiếu cho tới khi hết số cổ phiếu nhận thay cổ tức.

 

2.2 Vấn đề kê khai, quyết toán thuế

Theo văn bản hướng dẫn của Tổng cục Thuế, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) với cơ quan thuế nếu có số thuế phải nộp thêm, hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo.

Cá nhân có mặt tại Việt Nam tính trong năm dương lịch đầu tiên dưới 183 ngày, nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên thì năm quyết toán đầu tiên là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.

Cá nhân là người nước ngoài kết thúc hợp đồng làm việc tại Việt Nam khai quyết toán thuế với cơ quan thuế trước khi xuất cảnh. Trường hợp cá nhân chưa làm thủ tục quyết toán thuế với cơ quan thuế thì thực hiện ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập hoặc tổ chức, cá nhân khác quyết toán thuế theo quy định về quyết toán thuế đối với cá nhân. Trường hợp tổ chức trả thu nhập, hoặc tổ chức, cá nhân khác nhận ủy quyền quyết toán thì phải chịu trách nhiệm về số thuế TNCN phải nộp thêm, hoặc được hoàn trả số thuế nộp thừa của cá nhân.

Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, đồng thời thuộc diện xét giảm thuế do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì không ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế thay mà phải trực tiếp khai quyết toán với cơ quan thuế theo quy định.

- Trường hợp 1 : Khi nộp thiếu tiền thuế TNCN -> bắt buộc phải quyết toán để thể hiện nghĩa vụ nộp nốt vào ngân sách nhà nước

- Trường hợp 2 : Trường hợp nộp thừa tiền thuế muốn bù trừ kỳ sau hoặc hoàn thuế thì phải quyết toán

- Trường hợp 3 : cá nhân không nộp thừa, thiếu tiền thuế TNCN thì không phải quyết toán thuế TNCN. Cá nhân có thể thực hiện quyết toán bằng một trong hai hình thức. Tự làm tờ khai quyết toán với cơ quan thuế hoặc ủy quyền cho doanh nghiệp quyết toán thay nếu đủ điều kiện.

Theo quy định tại điểm d, khoản 6, Điều 8, Chương II, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế  thì không phải quyết toán thuế:

 - Tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế TNCN.

 - Cá nhân trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế, nếu cá nhân có số thuế TNCN phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống sẽ không phải quyết toán thuế.

 - Cá nhân có số thuế TNCN phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo.

 - Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

 - Cá nhân được người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm mà người sử dụng lao động, hoặc doanh nghiệp bảo hiểm đã khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí bảo hiểm tương ứng với phần người sử dụng lao động mua, hoặc đóng góp cho người lao động, thì người lao động không phải quyết toán đối với phần thu nhập này.

=> Như vậy, đối với trường hợp của bạn, tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể về nơi cú trú, cùng với các khoản thu nhập cụ thể của bạn trong năm, từ đó mới có thể xác định rõ bạn có thuộc diện phải quyết toán thuế hay không.

Xem thêmChứng khoán là gì? Những điều cơ bản cần biết trước khi đầu tư

Trên đây là nội dung tư vấn cho câu hỏi thu nhập từ chứng khoán trên sàn nước ngoài đóng thuế như thế nào dựa trên những thông tin mà luật sư đã nhận được. Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan, vui lòng liên hệ 19006199 để được hỗ trợ kịp thời. Xin cảm ơn!

Lương Thành Đạt

Được tư vấn bởi: Luật sư Lương Thành Đạt

Công ty Luật TNHH Vì Chân Lý Themis

Vichanly.com - 0988265333

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: [email protected]
Quý khách có bất kỳ vấn đề nào cần tư vấn, hãy đặt câu hỏi cho các luật sư để được tư vấn một cách nhanh chóng nhất!

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

loading
Vui lòng đợi