Một mảnh đất bán cho 2 người, xử lý thế nào?

Câu hỏi:

Xin hỏi LuatVietNam: Tôi có một mảnh đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2015. Năm 2016, tôi và anh A có ký hợp đồng mua bán đất bằng giấy viết tay không công chứng và có lập biên lai nhận số tiền 2/3 giá trị hợp đồng. Khi ký kết hợp đồng , tôi có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh A và anh A chưa làm thủ tục sang tên. Đến tháng 6/2016, tôi có đi xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2017, tôi và anh B có ký hợp đồng mua bán đất bằng giấy viết tay không công chứng và có lập biên lai nhận số tiền 2/3 giá trị hợp đồng. Khi ký kết hợp đồng, tôi có giao cho anh B giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2021, anh A và anh B đều đi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy trong trường hợp này, ai có quyền đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Người không được đứng tên có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường hay hoàn tiền không ạ? Xin cảm ơn !

Trả lời:

Theo Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hình thức, thủ tục thực hiện Hợp đồng về quyền sử dụng đất: “1. Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan

Tuy nhiên, Điều 129 quy định, giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

“2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”

Theo thông tin bạn cung cấp thì giao dịch giữa bạn và anh A diễn ra trước, đồng thời, anh A cũng đã thanh toán cho bạn 2/3 giá trị hợp đồng nên theo quy định trên, A có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó, A sẽ được công nhận giao dịch và sau khi thanh toán 2/3 giá trị hợp đồng, anh A được quyền xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên.

Bên cạnh đó, tại Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu......”

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn đã ký hợp đồng mua bán đất với anh A năm 2016 nhưng đến năm 2017, bạn vẫn tiếp tục bán mảnh đất trên cho anh B và anh B hoàn toàn không biết sự việc trên. Vì vậy, căn cứ quy định trên thì Hợp đồng giữa bạn và anh B là vô hiệu do lừa dối.

Căn cứ khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường. Do đó, anh B có quyền khởi kiện yêu cầu hoàn trả lại số tiền đã thanh toán và bồi thường thiệt hại.

Trên đây là nội dung tư vấn dựa trên những thông tin mà luật sư đã nhận được. Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan, vui lòng liên 19006192 để được hỗ trợ kịp thời. Xin cảm ơn!

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: tuvan@luatvietnam.vn

Quý khách có bất kỳ vấn đề nào cần tư vấn, hãy đặt câu hỏi cho các luật sư để được tư vấn một cách nhanh chóng nhất!

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải app LuatVietnam miễn phí tại đây

Vui lòng đợi