Trả lời:
Khoản 12, Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn về tình tiết giảm nhẹ phạm tội do lạc hậu như sau:
12. “Phạm tội do lạc hậu” quy định tại điểm m khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trường hợp phạm tội do nhận thức, trình độ thấp kém mà không nhận thức đầy đủ tính chất nghiêm trọng do hành vi của mình gây ra hoặc không theo kịp đà tiến bộ, đà phát triển chung của xã hội. Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội do lạc hậu” nếu sự lạc hậu đó là do nguyên nhân khách quan đưa lại (như: do đời sống xã hội nên không hiểu biết hoặc kém hiểu biết về pháp luật, không được học tập, không có điều kiện thực tế để nhận biết cái đúng, cái sai trong cuộc sống...).
Ví dụ: Sùng Văn A là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn vẫn còn phong tục bắt vợ từ sớm. A đã bắt chị Vàng Thị B 14 tuổi về làm vợ nhưng không có sự đồng thuận của chị B dẫn đến chị B có con khi mới 15 tuổi. Trường hợp này, Sùng Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm m khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Theo quy định trên, để được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội do lạc hậu, phải có căn cứ cho thấy người phạm tội đó đã phạm tội do nhận thức, trình độ thấp kém mà không nhận thức đầy đủ tính chất nghiêm trọng do hành vi của mình gây ra hoặc không theo kịp đà tiến bộ, đà phát triển chung của xã hội.
Mặt khác, sự lạc hậu đó phải là do nguyên nhân khách quan đưa lại (như: do đời sống xã hội nên không hiểu biết hoặc kém hiểu biết về pháp luật, không được học tập, không có điều kiện thực tế để nhận biết cái đúng, cái sai trong cuộc sống...).
Xem thêm: Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015
Trên đây là nội dung tư vấn về vấn đề “Khi nào được coi là phạm tội do lạc hậu?” dựa trên những thông tin mà luật sư đã nhận được. Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan, vui lòng liên hệ 19006192 để được hỗ trợ kịp thời. Xin cảm ơn!