Trả lời:
Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 36 Bộ luật lao động 2019, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc, cụ thể như sau:
Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
Như vậy, với tình huống bạn vừa nêu, nếu công ty của bạn không có quy chế nêu rõ bộ tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc thì việc công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo trường hợp người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc là trái pháp luật.
Theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 thì khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sẽ phải có nghĩa vụ như sau:
Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
2. Trường hợp người lao động không muốn iếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
Như vậy, nếu công ty của bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì sẽ có trách nhiệm đối với bạn như sau:
- Phải nhận bạn trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bạn không được làm việc;
- Phải trả thêm cho bạn một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động;
- Phải trả cho bạn một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động của 30 ngày không báo trước;
- Ngoài ra, nếu công ty của bạn không muốn nhận bạn quay trở lại làm việc và bạn đồng ý thì phải trả trợ cấp thôi việc và phải bồi thường thêm cho bạn một khoản ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
Xem thêm: 4 trường hợp người lao động phải bồi thường cho công ty
Trên đây là nội dung tư vấn về vấn đề “Công ty phải bồi thường như thế nào khi chấm dứt hợp đồng trái pháp luật?” dựa trên những thông tin mà luật sư đã nhận được. Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan, vui lòng liên hệ 19006192 để được hỗ trợ kịp thời. Xin cảm ơn!