Danh mục

Công ty làm mất tờ rời BHXH, tôi phải làm sao?

Câu hỏi:

Tôi năm nay 32 tuổi là lao động nữ được 03 năm tại Ngân hàng BIDV (từ 01/11/2016 - 01/10/2019). Nay tôi mang thai do yêu cầu cần phải dưỡng thai nên tôi đã nộp đơn xin nghỉ việc và được chấp thuận.

Nhưng đến nay 27/12/2019, tôi vẫn chưa nhận được sổ bảo hiểm xã hội (BHXH) nên tôi không thể hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Tôi có liên hệ với cơ quan nhưng cơ quan trả lời do "quá trình" gộp sổ BHXH nên tôi phải đợi. (Tôi đã nộp sổ BHXH ở cơ quan cũ trước nghỉ việc từ tháng 9/2019).

Nhưng BIDV làm mất tờ rời nộp BHXH năm 2017 và năm 2018 nên phải chờ trích lục từ cơ quan BHXH. Đến thời điểm 21/12/2019 mới trả lời tôi là vừa trích lục xong, sau 21 ngày mới gộp xong sổ BHXH cho tôi.

Nếu quá 3 tháng tức ngày 31/12/2019 tôi không nhận được sổ BHXH thì tôi mất quyền hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Dù tôi đã làm tròn nhiệm vụ, cung cấp sổ cũ (bị thất lạc) trước khi nghỉ việc.

Vậy ai là người chịu trách nhiệm? Dù bên BHXH trả lời tôi rằng chỉ 26 ngày sau sẽ kết sổ xong kể từ ngày nộp (chỉ làm việc với cơ quan, đơn vị nộp). Vậy tôi phải làm như thế nào mới đúng?

Xin trân trọng cảm ơn!

Trả lời:

Bảo hiểm thất nghiệp là một loại bảo hiểm có ý nghĩa quan trọng đối với người lao động, theo khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013, đây là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Dưới góc nhìn của Luật sư, chế độ bảo hiểm thất nghiệp là toàn bộ hệ thống các quy định pháp luật về việc đóng phí, nộp quỹ Bảo hiểm thất nghiệp.

Việc sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và việc chi trả khoản tiền bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động đề bù đắp thu nhập cho người bị mất việc làm và đưa người thất nghiệp quay trở lại làm việc.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm Bảo quản hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động trong thời gian người lao động làm việc tại đơn vị.

Đồng thời xuất trình các tài liệu, hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có kiểm tra, thanh tra về bảo hiểm thất nghiệp (theo khoản 3 Điều 32 Nghị định 28/2015/NĐ-CP).

Đồng thời, theo khoản 4 Điều này, người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp trong vòng 02 ngày làm việc từ khi người lao động yêu cầu.

Bên cạnh đó khoản 3 Điều 47 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định, người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

Như vậy, người sử dụng lao động phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước việc làm mất giấy tờ, hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp của bạn.

Trường hợp người sử dụng lao động làm mất sổ bảo hiểm xã hội thì người lao động có quyền yêu cầu người sử dụng lao động hoặc tự mình làm thủ tục xin cấp lại giấy tờ BHXH.

Nếu việc làm mất sổ bảo hiểm xã hội, hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của bạn, bàn hoàn toàn có quyền khiếu nại tới Sở Lao động Thương binh và xã hội theo quy định của pháp luật.

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: tuvan@luatvietnam.vn

Quý khách có bất kỳ vấn đề nào cần tư vấn, hãy đặt câu hỏi cho các luật sư để được tư vấn một cách nhanh chóng nhất!

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải app LuatVietnam miễn phí tại đây

Vui lòng đợi