Dự thảo Thông tư về thủ tục tha tù trước thời hạn

BỘ CÔNG AN

-------

Số:       /2019/TT-BCA

DỰ THẢO 2

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------

          Hà Nội, ngày       tháng     năm 2019

 
 
 

 

 

THÔNG TƯ

Quy định việc tổ chức xét, đề nghị và thẩm định hồ sơ giảm thời hạn,

tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện

trong các cơ sở giam giữ phạm nhân

-------------------

Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2019;

Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng;

Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định việc tổ chức xét, đề nghị và thẩm định hồ sơ giảm thời hạn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện trong các cơ sở giam giữ phạm nhân.

 

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xét, đề nghị và thẩm định hồ sơ giảm thời hạn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện trong các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện (gọi chung là cơ sở giam giữ phạm nhân).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với Công an các đơn vị, địa phương; phạm nhân đang chấp hành án tại các cơ sở giam giữ; người đã có quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án đang ở trong trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chờ đưa đi chấp hành án (gọi chung là người đang chờ đưa đi chấp hành án) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 3. Nguyên tắc trong xét, đề nghị và thẩm định hồ sơ giảm thời hạn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện trong các cơ sở giam giữ phạm nhân

1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

2. Bảo đảm khách quan, công bằng, đúng đối tượng, phù hợp với chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.

3. Bảo đảm chặt chẽ, không để ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự.

 

Chương II

XÉT, ĐỀ NGHỊ VÀ THẨM ĐỊNH HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ

GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ

 

Điều 4. Thời điểm xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù

1. Việc xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện mỗi năm 03 (ba) đợt, vào các dịp: Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4), ngày Quốc khánh (02/9) và tết Nguyên đán.

2. Đối với những trường hợp đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì việc đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù không phụ thuộc vào thời điểm quy định tại khoản 1 của Điều này.

Điều 5. Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù

1. Các trại giam thuộc Bộ Công an thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị phụ trách công tác giáo dục, hồ sơ làm Uỷ viên thường trực, Đội trưởng Giáo dục và hồ sơ làm Uỷ viên thư ký và các Uỷ viên gồm: Các Phó Giám thị; các Trưởng phân trại; Đội trưởng các đội: Tham mưu, Cảnh sát quản giáo, Trinh sát, Cảnh sát bảo vệ - cơ động, Kế hoạch, hướng nghiệp, dạy nghề và xây dựng, Hậu cần, tài vụ, Y tế và bảo vệ môi trường.

Trại giam có từ hai phân trại trở lên thì thành lập Tiểu ban xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của phân trại do Phó Giám thị phụ trách phân trại (đối với phân trại có Phó Giám thị phụ trách trực tiếp) hoặc Trưởng phân trại làm Trưởng tiểu ban, Trưởng phân trại (đối với phân trại có Phó Giám thị phụ trách trực tiếp) hoặc Phó Trưởng phân trại làm Ủy viên Thường trực, cán bộ giáo dục phân trại làm Ủy viên thư ký và các ủy viên khác gồm: Tổ trưởng Cảnh sát quản giáo, cán bộ trinh sát, y tế và Trung đội trưởng Cảnh sát bảo vệ của phân trại.

2. Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị phụ trách Phân trại Quản lý phạm nhân làm Ủy viên thường trực, Trưởng phân trại quản lý phạm nhân, Đội trưởng Đội Quản giáo, Trung đội trưởng Cảnh sát bảo vệ, cán bộ trinh sát, giáo dục, y tế của Phân trại Quản lý phạm nhân làm uỷ viên và Đội trưởng Đội Tham mưu làm ủy viên thư ký.

3. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm Chủ tịch Hội đồng, Đội trưởng Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp là Ủy viên thường trực, cán bộ quản giáo, y tế là ủy viên và cán bộ tổng hợp của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện là ủy viên thư ký.

4. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam Công an cấp tỉnh và Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện do Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng, các thành viên Hội đồng gồm có: Phó Thủ trưởng Thường trực Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh làm Ủy viên thường trực, một Phó Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh là Ủy viên thư ký; các Ủy viên khác là Giám thị trại tạm giam Công an cấp tỉnh, đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra thuộc Công an cấp tỉnh.

5. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an thành lập Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các trại giam và trại tạm giam thuộc Bộ Công an. Thành phần Hội đồng gồm có: Một Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng làm Chủ tịch; Trưởng phòng Phòng Công tác Chính sách phạm nhân thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng làm Ủy viên thường trực, một Phó Trưởng phòng Phòng Công tác Chính sách phạm nhân thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng làm Ủy viên thư ký; đại diện lãnh đạo Phòng Trinh sát thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng làm uỷ viên.

Điều 6. Lập hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù

1. Trước thời điểm xét giảm quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư này, ít nhất là hai mươi ngày, các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cho cán bộ quản giáo tổ chức họp đội (tổ) phạm nhân để bình xét, giới thiệu, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho những phạm nhân có đủ điều kiện và biểu quyết bằng hình thức giơ tay. Cuộc họp phải được lập biên bản, có chữ ký của cán bộ quản giáo và phạm nhân ghi biên bản. Trên cơ sở kết quả họp đội (tổ) phạm nhân, cán bộ quản giáo lập danh sách và đề xuất mức giảm cho từng phạm nhân để báo cáo trước Tiểu ban của phân trại (đối với các trại giam có thành lập Tiểu ban) hoặc báo cáo Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

Trường hợp cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có từ 03 phạm nhân trở xuống thì cán bộ quản giáo không tổ chức họp mà kiểm tra, rà soát, lập danh sách phạm nhân có đủ điều kiện xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, báo cáo Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

2. Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện họp, xem xét kết quả đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các Tiểu ban (đối với các trại giam có thành lập Tiểu ban) hoặc của cán bộ quản giáo phụ trách đội (tổ) phạm nhân và xét duyệt, đề nghị giảm thời hạn đối với từng phạm nhân. Căn cứ kết quả cuộc họp, Hội đồng hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân do Giám thị, Chủ tịch Hội đồng ký.

3. Trại giam chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đến Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an để thẩm định. Trại tạm giam thuộc Bộ Công an chuyển hồ sơ, danh sách đến Thủ trưởng đơn vị trực tiếp quản lý để xét duyệt, sau đó chuyển cho Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an thẩm định.  

Trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đến Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.

4. Phạm nhân được trích xuất để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử nhưng không thuộc đối tượng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác đủ điều kiện đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi nhận phạm nhân trích xuất có văn bản đề nghị trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi đang quản lý hồ sơ phạm nhân xem xét, lập hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Trường hợp trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi nhận phạm nhân trích xuất quản lý hồ sơ phạm nhân thì xem xét, lập hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù như đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

5. Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù chuyển đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giam giữ đóng quân thực hiện như quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an chuyển đến Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an gồm các tài liệu: Biên bản họp Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam; thống kê số liệu phạm nhân được xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; phiếu xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; tài liệu chứng minh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật (nếu có); tài liệu chứng minh là đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo; đối với phạm nhân được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc phạm nhân được áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc đã trở lại trại giam, trại tạm giam tiếp tục chấp hành án phải có văn bản của chính quyền địa phương nơi phạm nhân được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù về cư trú hoặc cơ sở y tế điều trị cho phạm nhân xác nhận trong thời gian được tạm đình chỉ hoặc chữa bệnh bắt buộc luôn chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật; bản sao bản án và quyết định thi hành hình phạt tù đối với phạm nhân đang chấp hành hình phạt là tù chung thân được đề nghị giảm xuống tù có thời hạn; danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân (05 bộ).

Điều 7. Thẩm định hồ sơ và xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù

1. Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an tổ chức họp để thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do trại giam, trại tạm giam chuyển đến. Đối với trường hợp người được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù là phạm nhân phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Hội đồng thẩm định phải gửi văn bản đề nghị cho ý kiến trước khi Hội đồng họp hoặc có thể mời đại diện Cơ quan An ninh điều tra của Bộ Công an dự họp. Sau khi thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các trại giam, trại tạm giam, Hội đồng thẩm định tổng hợp kết quả và báo cáo Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an duyệt.

Căn cứ kết quả thẩm định đã được Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành hình sự thuộc Bộ Công an duyệt, Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an hoàn thành hồ sơ, danh sách, làm văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù xem xét, quyết định, đồng thời gửi một bộ hồ sơ, danh sách đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật.

2. Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh họp để xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

Căn cứ kết quả xét, đề nghị của Hội đồng, Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an cấp tỉnh phối hợp với trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân, đồng thời chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo quy định của pháp luật.

Điều 8. Giải quyết trường hợp phạm nhân đã được đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật

1. Trường hợp phạm nhân đã được đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước khi Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự và Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh họp thì Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải có văn bản đề nghị Chủ tịch Hội đồng loại phạm nhân đó ra khỏi danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.

2. Trường hợp phạm nhân đã được đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước khi có quyết định giảm của Tòa án thì Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải báo cáo kịp thời với Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Tòa án có thẩm quyền xét giảm và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án để loại phạm nhân đó ra khỏi danh sách xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.

 

Chương III

XÉT, ĐỀ NGHỊ VÀ THẨM ĐỊNH HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ

TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ

 

Điều 9. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

Các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù với thành phần như Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.

Điều 10. Trình tự, thủ tục lập và thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

1. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam đó và chuyển cho Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng để xem xét, thẩm định. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng phải xem xét, thẩm định và có văn bản trả lời cho trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an. Nếu hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù chưa đầy đủ tài liệu thì cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung hoặc làm rõ thêm. Thời hạn 02 ngày làm việc để xem xét, thẩm định được tính lại, kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận được tài liệu bổ sung hoặc văn bản giải trình về vấn đề cần được làm rõ thêm.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được ý kiến đồng ý của cơ quan thẩm định có thẩm quyền, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an làm văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.

Đối với phạm nhân bị phạt tù từ 15 năm trở xuống bị bệnh HIV giai đoạn lâm sàng IV đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và chuyển cho Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định mà không cần phải thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ như các trường hợp khác. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân thuộc trường hợp này phải được sao gửi Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo quy định pháp luật.

2. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc người đang chờ đưa đi chấp hành án và báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh xem xét, đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.

3. Phạm nhân được trích xuất để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử nhưng không thuộc đối tượng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác đủ điều kiện có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi nhận phạm nhân trích xuất có văn bản đề nghị trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi đang quản lý hồ sơ phạm nhân xem xét, lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Trường hợp trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi nhận phạm nhân trích xuất quản lý hồ sơ phạm nhân thì xem xét, lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù như đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

Điều  11. Tạm đình chỉ đối với người đang chờ đưa đi chấp hành án phạt tù

Người đang chờ đưa đi chấp hành án phạt tù nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì có thể được đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Trình tự, thủ tục, hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ được thực hiện như đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các cơ sở giam giữ phạm nhân.

 

Chương IV

XÉT, ĐỀ NGHỊ VÀ THẨM ĐỊNH HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ

THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN

 

Điều 12. Thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện

Thời điểm xét đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo quy định tại Điều 57 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Điều 13. Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện và Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có thành phần như Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.

2. Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự do Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an quyết định thành lập. Thành phần của Hội đồng gồm:  Một Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng làm Chủ tịch; Trưởng phòng Phòng Công tác Chính sách phạm nhân thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng làm Ủy viên thường trực, một Phó Trưởng phòng Phòng Công tác Chính sách phạm nhân thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng làm Ủy viên thư ký; các ủy viên còn lại là đại diện lãnh đạo Phòng Trinh sát thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng và đại diện lãnh đạo Phòng Theo dõi thi hành hình sự tại cộng đồng thuộc Cục Cảnh sát quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng.

Điều 14. Lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Sau khi hoàn thành việc đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân quý I, quý II và năm, các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện rà soát, lập danh sách (kèm theo hồ sơ) đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền như sau:

a) Trại giam thuộc Bộ Công an chuyển hồ sơ, danh sách phạm nhân đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện đến Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an để thẩm định. Trại tạm giam thuộc Bộ Công an chuyển hồ sơ, danh sách phạm nhân đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện đến Thủ trưởng đơn vị trực tiếp quản lý để xét duyệt, sau đó chuyển cho Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an để thẩm định. Căn cứ kết quả thẩm định, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân đủ điều kiện;

b) Trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chuyển hồ sơ, danh sách phạm nhân đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện đến Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để lập hồ sơ xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân.

2. Việc rà soát, lập hồ sơ xét, đề nghị và thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện phải hoàn thành trước ngày 15 tháng 4 đối với phạm nhân đủ điều kiện sau khi đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù Quý I, trước ngày 15 tháng 8 đối với phạm nhân đủ điều kiện sau khi đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù Quý II và trước ngày 31 tháng 12 đối với phạm nhân đủ điều kiện sau khi đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù năm để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định, đồng thời chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật.

3. Việc xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với phạm nhân được trích xuất để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử nhưng không thuộc đối tượng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 58 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trường hợp trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi nhận phạm nhân trích xuất quản lý hồ sơ phạm nhân  như quy định tại khoản 5 Điều 40 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 thì xem xét, lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất như đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

Điều 15. Xét, đề nghị và thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Sau khi nhận được hồ sơ, danh sách phạm nhân đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chuyển đến, Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh tổ chức họp để xét, đề nghị.

Căn cứ kết quả họp của Hội đồng, Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phối hợp với trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách phạm nhân được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện trình Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định, đồng thời chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật.

2. Sau khi nhận được hồ sơ, danh sách phạm nhân đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an chuyển đến, Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an tổ chức họp để thẩm định. Sau khi thẩm định hồ sơ, danh sách phạm nhân đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Hội đồng tổng hợp kết quả, lập danh sách và báo cáo Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an duyệt.

Căn cứ kết quả thẩm định đã được Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an duyệt, Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an hoàn thành hồ sơ, danh sách, làm văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi phạm nhân đang chấp hành án xem xét, quyết định, đồng thời gửi một bộ hồ sơ, danh sách đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật.

Điều 16. Giải quyết phạm nhân được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện hoặc đã có Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện nhưng chưa công bố vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật

1. Trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước khi Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự và Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh họp thì Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải có văn bản đề nghị Chủ tịch Hội đồng loại phạm nhân đó ra khỏi danh sách đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện.

2. Trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên trước khi có Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án, thì Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải kịp thời có văn bản (kèm theo hồ sơ kỷ luật) báo cáo Thủ trưởng Cơ quan thẩm định hoặc Thủ trưởng Cơ quan xét, đề nghị, Tòa án có thẩm quyền quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án để loại phạm nhân đó ra khỏi danh sách đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện.

3. Trường hợp phạm nhân đã có Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhưng chưa công bố mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên, thì cơ quan lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện kịp thời có văn bản (kèm theo hồ sơ kỷ luật) đề nghị Tòa án đã ra Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật.

 

 

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Điều 17.  Hiệu lực thi hành

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.

Điều 18. Trách nhiệm thi hành

1. Thủ trưởng đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thực hiện Thông tư này.

2. Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng chịu trách nhiệm giúp Bộ trưởng theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc triển khai việc thực hiện Thông tư này.

3. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ ở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng) để kịp thời hướng dẫn./.

 

Nơi nhận:

- Văn phòng Chính phủ;

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Toà án nhân dân tối cao;

- Bộ Tư pháp;

- Các đồng chí Thứ trưởng;

- Các đơn vị trực thuộc Bộ;

- Công an tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ;

- Cổng thông tin điện tử Bộ Công an;

- Lưu: VT, V03, C10.

BỘ TRƯỞNG

 

 

 

 

 

 

Đại tướng Tô Lâm

Văn bản cùng lĩnh vực