Để quy định chi tiết thi hành Nghị quyết 116/2020/QH14 về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác, mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 114/2020/NĐ-CP.
Nghị định này quy định tổng doanh thu năm 2020 làm căn cứ xác định đối tượng được giảm thuế là tổng doanh thu trong kỳ tính thuế TNDN năm 2020 của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng.
Để được giảm thuế, doanh nghiệp tự xác định số thuế TNDN được giảm khi tạm nộp hàng quý và khi kê khai thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế TNDN năm 2020. Khi lập hồ sơ khai thuế, doanh nghiệp kê khai số thuế TNDN được giảm trên các mẫu tờ khai.
Khi thực hiện quyết toán thuế TNDN, trường hợp doanh nghiệp nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp quý thì doanh nghiệp nộp bổ sung số tiền thuế còn thiếu và tính tiền chậm nộp. Trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế nhiều hơn so với số thuế phải nộp của kỳ tính thuế TNDN năm 2020 thì xử lý số tiền thuế nộp thừa theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền phát hiện doanh nghiệp không thuộc đối tượng được giảm thuế hoặc số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã nộp thì doanh nghiệp phải nộp số tiền thuế thiếu, tiền phạt và tiền chậm nộp kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế.Trường hợp doanh nghiệp khai bổ sung hồ sơ khai thuế TNDN của kỳ tính thuế năm 2020 hoặc thực hiện quyết định sau thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền làm tăng số thuế TNDN phải nộp thì số thuế tăng thêm được giảm 30% theo quy định của Nghị định này.
Trường hợp doanh nghiệp khai bổ sung hồ sơ khai thuế TNDN của kỳ tính thuế năm 2020 hoặc thực hiện quyết định sau thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền làm giảm số thuế TNDN phải nộp thì xử lý số tiền thuế nộp thừa (nếu có) theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Bộ Nội vụ vừa ban hành Công văn số 5081/BNV-CCVC ngày 26/9/2020 về việc thực hiện quy định liên quan đến tuổi nghỉ hưu theo Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019.
Theo BLLĐ năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng (với lao động nam) và đủ 55 tuổi 04 tháng (với lao động nữ). Sau đó, mỗi năm tăng thêm 03 tháng với lao động nam và 04 tháng với lao động nữ.
Trong khi đó, công chức, viên chức được thông báo nghỉ hưu trước 06 tháng và nhận quyết định nghỉ hưu trước 03 tháng tính đến thời điểm công chức, viên chức nghỉ hưu.
Để thống nhất các quy định liên quan đến tuổi nghỉ hưu áp dụng với công chức, viên chức, Bộ Nội vụ hướng dẫn như sau:
- Trường hợp có thời điểm nghỉ hưu sau ngày 01/01/2021: Xem xét ra thông báo, quyết định nghỉ hưu trên cơ sở tuổi nghỉ hưu của công chức, viên chức theo BLLĐ năm 2019. Nếu đã ra thông báo nghỉ hưu thì không phải thông báo lại; riêng quyết định nghỉ hưu thì thực hiện theo BLLĐ 2019;
- Trường hợp có thời điểm nghỉ hưu trước ngày 01/01/2021 mà bị lùi thời điểm nghỉ hưu: Không thuộc đối tượng áp dụng tuổi nghỉ hưu theo quy định của BLLĐ 2019. Thời điểm ra thông báo và quyết định nghỉ hưu thực hiện theo quy định hiện hành.
Kế hoạch xét nghiệm phát hiện nhiễm SARS-CoV-2 trong giai đoạn dịch Covid-19 được Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định số 4042/QĐ-BYT ngày 21/9/2020 vừa qua.
Nhằm phát hiện kịp thời các trường hợp mắc Covid-19 để thực hiện giám sát, cách ly, điều trị, Bộ Y tế đã phân các đối tượng thành 03 nhóm xét nghiệm ưu tiêu.
Trong đó, nhóm phải thực hiện xét nghiệm trong mọi trường hợp gồm 06 đối tượng sau:
- Người tiếp xúc gần với ca bệnh nghi ngờ, ca bệnh xác định;
- Ca bệnh xác định Covid-19 đang trong quá trình điều trị;
- Các trường hợp đến khám bệnh hoặc nhập viện với triệu chứng viêm đường hô hấp cấp nặng hoặc viêm phổi nặng nghi do nhiễm vi rút hoặc hội chứng cúm (có sốt và ít nhất 01 biểu hiện/triệu chứng về bệnh liên quan đến hô hấp);
- Nhân viên y tế, người chăm sóc, nhân viên phục vụ không có triệu chứng và tiếp xúc gần với ca bệnh xác định trong vòng 14 ngày mà không sử dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp như không tuân thủ vệ sinh tay, không sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân thích hợp;
- Những người mới được nhập cảnh, cách ly tập trung và trước khi rời khu cách ly tập trung 01 ngày;
- Người ở trong ổ dịch đã được khoanh vùng cách ly.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 21/9/2020.
Bộ Nội vụ vừa ban hành Kế hoạch số 4991/KH-BNV ngày 23/9/2020 về việc tổ chức thi nâng ngạch công chức và thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức năm 2020.
Cụ thể, thời gian dự kiến tổ chức kỳ thi nâng ngạch công chức và thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức là cuối tháng 11/2020. Trong đó, lịch thi cụ thể sẽ do Hội đồng thi sắp xếp và thông báo.
Kế hoạch quy định đối tượng dự thi, điều kiện, tiêu chuẩn đăng ký dự thi, nội dung, hình thức, thời gian thi và việc miễn thi ngoại ngữ trong kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp chuyên viên chính, giảng viên chính (hạng II) và thi nâng ngạch từ chuyên viên lên chuyên viên chính.
Trong đó, người trúng tuyển kỳ thi thăng hạng viên chức phải dự thi đủ các bài thi của các môn thi trừ những môn được miễn thi theo quy định, có số điểm của mỗi bài thi đạt từ 50 điểm trở lên, các bài thi được chấm theo thang điểm 100.
Với đối tượng công chức, người trúng tuyển phải có kết quả điểm thi môn chuyên môn nghiệp vụ tại vòng 02 đạt từ 50 điểm trở lên lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu.
Trong trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả điểm thi bằng nhau ở chỉ tiêu nâng ngạch cuối cùng thì ưu tiêu lấy người trúng tuyển theo thứ tự: Là nữ; là người dân tộc thiểu số; người dự tuyển là người nhiều tuổi hơn, người dự tuyển có thời gian công tác nhiều hơn…
Nội dung đáng chú ý này được Chính phủ ban hành tại Nghị định 116/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt với sinh viên sư phạm.
Theo đó, sinh viên sư phạm được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí bằng mức thu học phí của cơ sở đào tạo giáo viên nơi theo học. Sinh viên sư phạm được hỗ trợ 3,63 triệu đồng/tháng để chi trả chi phí sinh hoạt trong thời gian học tập tại trường.
Thời gian hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt được xác định theo số tháng thực tế học tập tại trường nhưng không quá 10 tháng/năm học. Riêng trường hợp học theo tín chỉ thì tổng kinh phí hỗ trợ cả khóa học không vượt quá mức hỗ trợ quy định của khóa học theo năm học.
Đồng thời, về việc bồi hoàn kinh phí hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt, Điều 6 Nghị định này nêu rõ, sinh viên sư phạm phải bồi hoàn là người:
- Đã hưởng chính sách nhưng không công tác trong ngành giáo dục sau 02 năm kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp;
- Đã hưởng chính sách và công tác trong ngành giáo dục nhưng không đủ thời gian công tác;
- Được hưởng chính sách đang trong thời gian đào tạo nhưng chuyển sang ngành khác, tự thôi học, không hoàn thành chương trình đào tạo hoặc bị kỷ luật buộc thôi học.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/11/2020 và áp dụng bắt đầu cho khóa tuyển sinh năm học 2021-2022.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Chính phủ hướng dẫn thủ tục giảm thuế TNDN phải nộp năm 2020