Ngày 01/6/2021, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 40/2021/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Theo đó, các đối tượng hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nêu tại Thông tư này gồm cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định gồm:
- Hành nghề độc lập trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề;
- Hoạt động đại lý bán đúng giá với đại lý xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp của cá nhân trực tiếp ký hợp đồng với doanh nghiệp xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp;
- Hợp tác kinh doanh với tổ chức;
- Sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản không đáp ứng điều kiện được miễn thuế GTGT, TNCN;
- Hoạt động thương mại điện tử.
Có thể thấy, so với Điều 1 Thông tư 92/2015/TT-BTC, Thông tư 40/2021 đã bổ sung thêm hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động thương mại điện tử trong đó gồm cả cá nhân có thu nhập từ sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số.
Ngoài ra, Điều 2 Thông tư 40 cũng bổ sung thêm một số đối tượng khác gồm:
- Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế của khẩu trên lãnh thổ Việt Nam.
- Người cho thuê tài sản.
- Người chuyển nhượng tên miền “.vn”.
- Tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân.
- Tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân.
- Doanh nghiệp xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp trả thu nhập trực tiếp cho cá nhân ký hợp đồng đại lý bán đúng giá…
Thông tư này có hiệu lực từ 01/8/2021.
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg về bảo đảm việc làm bền vững, nâng cao mức sống, cải thiện điều kiện làm việc của công nhân lao động.
Theo đó, nhằm tiếp tục thực hiện hiệu quả các chủ trương bảo đảm việc làm bền vững, cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao mức sống của công nhân lao động, tại Chỉ thị này, Thủ tướng yêu cầu Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tham mưu triển khai giảm giờ làm việc bình thường phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội.
Song song với đó, Bộ này cũng phải thực hiện một số nhiệm vụ đáng chú ý sau:
- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách pháp luật về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động;
- Điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ người lao động do tác động của đại dịch Covid-19; khẩn trương hoàn thành, trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách hỗ trợ cho công nhân lao động, doanh nghiệp gặp khó khăn để vượt qua đại dịch Covid-19 nhằm bảo đảm tình hình lao động, việc làm.
- Sửa đổi, bổ sung danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm…
Đồng thời, tiếp tục quan tâm đến đời sống của người lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Y tế hướng dẫn bữa ăn ca cho các đối tượng này đảm bảo dinh dưỡng, mức bồi dưỡng cho lao động đặc thù…
Chỉ thị này được ban hành ngày 14/6/2021.
Sau đề nghị của Bộ Nội vụ, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến mới nhất về các loại chứng chỉ bồi dưỡng với công chức, viên chức tại Công văn số 3845/VPCP-TCCV ngày 10/6/2021.
Theo đó, Thủ tướng yêu cầu Bộ Nội vụ phối hợp chặt chẽ với các Bộ trong quá trình rà soát, cắt giảm chứng chỉ bồi dưỡng, đảm bảo nguyên tắc việc bỏ chứng chỉ phải gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức một cách thực chất, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ.
Đồng thời, việc bỏ chứng chỉ này phải phù hợp với vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý, tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức.
Bên cạnh đó, Bộ Nội vụ cũng phải hoàn chỉnh và trình dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 101/2017/NĐ-CP trong đó lưu ý nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức và quy định rõ lộ trình thực hiện các nội dung liên quan đến chứng chỉ bồi dưỡng.
Ngoài ra, các Bộ đang quản lý công chức, viên chức cũng phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các Thông tư quy định về tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức, bảo đảm cắt bỏ những chứng chỉ mang tính hình thức, không phù hợp trong đó có chứng chỉ ngoại ngữ, tin học.
Không chỉ vậy, còn cần phải cắt giảm chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức theo hướng tích hợp các chương trình bồi dưỡng có nội dung tương đồng để tăng cường bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm.
Chính phủ giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan khẩn trương đề xuất Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng Đề án thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng, báo cáo Chính phủ trong tháng 6/2021. Đồng thời, có giải pháp mạnh mẽ xúc tiến, thu hút đầu tư nước ngoài; đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình trình hỗ trợ chuyển đổi số doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025.
Chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết 42/NQ-CP về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, địa phương có giải pháp phù hợp để bảo đảm, duy trì các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh dịch bệnh, nhất là tại các khu công nghiệp, địa phương đang bùng phát dịch, không để đứt gãy chuỗi cung ứng nội địa và toàn cầu; bảo đảm cung cầu hàng hóa, dịch vụ thiết yếu. Tập trung hướng dẫn, triển khai thực hiện ngay việc hỗ trợ giảm giá điện, giãn tiền điện cho các khách hàng sử dụng điện theo tinh thần Nghị quyết số 55/NQ-CP.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với cơ quan, địa phương liên quan khẩn trương rà soát, nắm bắt khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý, nhất là các dịch vụ du lịch, lữ hành, lưu trú, văn hóa, thể thao, giải trí..., đề xuất các giải pháp hỗ trợ kịp thời, hiệu quả, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/6/2021.
Thông tư này đã ban hành đến 16 biểu mẫu sử dụng trong đăng ký, quản lý cư trú ký hiệu là CT. Trong đó, mẫu CT01 là Tờ khai thay đổi thông tin cư trú được sử dụng khi công dân thực hiện các thủ tục:
- Đăng ký thường trú;
- Xóa đăng ký thường trú;- Tách hộ;
- Điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú;- Đăng ký tạm trú;
- Xóa đăng ký tạm trú;- Gia hạn tạm trú;
- Khai báo thông tin về cư trú;- Xác nhận thông tin về cư trú.
Mẫu CT01 được tích hợp trong phần mềm quản lý cư trú, được Công an các đơn vị, địa phương in trực tiếp từ máy tính khi thực hiện công tác đăng ký, quản lý cư trú.
Mẫu này in trên khổ giấy 210 mm x 297 mm (A4), in bằng mực đen trên nền giấy trắng.Nghiêm cấm việc tự ý tẩy xóa, sửa chữa, bổ sung làm sai lệch nội dung thông tin trong biểu mẫu. Trường hợp cố ý làm sai lệch thông tin thì tùy theo mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tháng 9 hàng năm, Công an các đơn vị, địa phương lập dự trù kinh phí in mẫu CT01, CT02, CT03, CT04, CT05, CT06, CT07, CT08, CT09, CT10, CT11, CT12 sử dụng cho Công an các đơn vị, địa phương thuộc quyền quản lý.
Việc quản lý, cấp phát, sử dụng, thanh, quyết toán kinh phí bảo đảm cho quản lý, sử dụng biểu mẫu trong đăng ký, quản lý cư trú từ ngân sách nhà nước phải thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2021 và thay thế Thông tư số 36/2014/TT-BCA quy định về biểu mẫu sử dụng trong đăng ký, quản lý cư trú.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2021 tới đây.
Điều 4 Nghị định này đã điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 360.000 đồng/tháng từ 01/7/2021. Trong khi, mức trợ cấp cũ theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 136/2013/NĐ-CP là 270.000 đồng.
Theo đó, các đối tượng người cao tuổi thuộc đối tượng bảo trợ xã hội sẽ được trợ cấp xã hội hàng tháng cụ thể như sau:
STT | Đối tượng người cao tuổi | Hệ số | Mức trợ cấp (đồng/tháng) |
1 | - Thuộc hộ nghèo; - Không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; - Từ 60 - 80 tuổi. | 1,5 | 540.000 |
2 | - Thuộc hộ nghèo; - Không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; - Đủ 80 tuổi trở lên; | 2,0 | 720.000 |
3 | - Từ đủ 75 - 80 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; - Không thuộc các trường hợp (1) và (2); - Sống ở xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn; | 1,0 | 360.000 |
| - Từ đủ 80 tuổi trở lên; - Không thuộc trường hợp (1) và (2); - Không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng. | ||
4 | - Thuộc hộ nghèo; - Không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng; - Không có điều kiện sống ở cộng đồng; - Đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng. | 3,0 | 1.080.000 |
Như vậy, từ ngày 01/7/2021 tới đây, người cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên, không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng được trợ cấp 360.000 đồng/tháng (tăng 90.000 đồng/tháng so với quy định cũ tại điểm l khoản 1 Điều 6 Nghị định 136/2013/NĐ-CP).
Nghị định 20/2021/NĐ-CP được ban hành ngày 15/3/2021.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Đã có Thông tư 40/2021 hướng dẫn quản lý thuế hộ kinh doanh