Cha mẹ "giữ hộ" tiền lì xì của con nhưng không trả có bị phạt không?

Tiền lì xì được xem là tài sản riêng của trẻ em, tuy nhiên việc cha mẹ quản lý khoản tiền này như thế nào cho đúng luật là điều không phải ai cũng nắm rõ.

Cha mẹ có được giữ tiền lì xì của con?

Lì xì (hay còn gọi là mừng tuổi) là một phong tục truyền thống tốt đẹp của người dân Việt Nam và các nước Á Đông trong dịp Tết Nguyên Đán. Đây là hành động đặt một số tiền nhỏ vào phong bao màu sắc rực rỡ để trao tặng cho trẻ em hoặc người lớn tuổi với những lời chúc tốt đẹp.

Dưới góc độ pháp lý, tiền lì xì đầu năm mới không chỉ đem lại giá trị về tinh thần mà còn được công nhận là một dạng tài sản trao tặng riêng. ​Tại Điều 76 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về việc quản lý tài sản riêng của con như sau: 

- Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.

- Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.

- Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

- Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự.

Theo quy định trên, cha mẹ có quyền được giữ hộ tiền lì xì của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự, con từ 15 tuổi trở lên nhờ giữ hộ tiền lì xì. Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình giữ tiền lì xì hoặc nhờ cha mẹ quản lý.

Cha mẹ giữ hộ tiền lì xì của con nhưng không trả

Cha mẹ giữ hộ tiền lì xì của con nhưng không trả có bị phạt?

Cha mẹ giữ hộ tiền lì xì của con nhưng không trả có thể bị coi là hành hành vi bạo lực về kinh thế và bị xử phạt theo quy định tại Điều 44 Nghị định 282/2025/NĐ-CP:

Điều 44. Hành vi bạo lực về kinh tế

1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Chiếm đoạt tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình;

b) Hủy hoại tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

c) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức;

d) Cưỡng ép thành viên gia đình đóng góp tài chính quá khả năng của họ;

đ) Kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, trừ trường hợp tài sản không thể khôi phục được tình trạng ban đầu;

b) Buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tài sản có được do chiếm giữ trái phép đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật cho chủ sở hữu hợp pháp đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, d và đ khoản 1 Điều này.

Theo quy định trên, cha mẹ giữ hộ tiền lì xì của con nhưng không trả có thể bị phạt từ 20 - 30 triệu đồng.

Mặc dù quy định pháp luật là thế, nhưng với truyền thống văn hóa Á Đông, con cái vẫn luôn sẵn sàng đồng ý cho cha mẹ giữ tiền lì xì của mình để quản lý, chi tiêu. Rất hiếm khi quy định xử phạt này được áp dụng trong thực tế.

Trên đây là giải đáp chi tiết về vấn đề: Cha mẹ giữ hộ tiền lì xì của con nhưng không trả có bị phạt không. Nếu còn thắc mắc, độc giả vui lòng liên hệ 1900.6192 để được hỗ trợ, giải đáp chi tiết.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
(4 đánh giá)

Tin cùng chuyên mục

Điểm mới của Nghị định 356/2025 so với Nghị định 13/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Điểm mới của Nghị định 356/2025 so với Nghị định 13/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Điểm mới của Nghị định 356/2025 so với Nghị định 13/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Từ ngày 01/01/2026, Nghị định 356/2025/NĐ-CP chính thức có hiệu lực nhằm hướng dẫn các quy định của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, thay thế cho Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Cùng LuatVietnam điểm nhanh những điểm mới của Nghị định 356 so với Nghị định 13 trước đây.

Hướng dẫn thủ tục đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài với nhau hoặc với người nước ngoài

Hướng dẫn thủ tục đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài với nhau hoặc với người nước ngoài

Hướng dẫn thủ tục đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài với nhau hoặc với người nước ngoài

Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài khi kết hôn với người nước ngoài hoặc với nhau cần thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Bài viết này sẽ hướng dẫn các bước cần thiết để chuẩn bị hồ sơ và thực hiện thủ tục tại Quyết định 3606/QĐ-BNG

Văn bản hợp nhất của Luật Hôn nhân gia đình

Văn bản hợp nhất của Luật Hôn nhân gia đình

Văn bản hợp nhất của Luật Hôn nhân gia đình

Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 vừa được cập nhật nội dung theo văn bản sửa đổi mới nhất và được hợp nhất trong Văn bản hợp nhất 121/VBHN-VPQH năm 2025 của Văn phòng Quốc hội. Bản hợp nhất giúp hệ thống hóa toàn bộ quy định pháp luật hiện hành, trong đó LuatVietnam cũng cung cấp phiên bản điện tử thuận tiện cho tra cứu, so sánh và áp dụng.

Hướng dẫn thủ tục đăng ký lại kết hôn tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Hướng dẫn thủ tục đăng ký lại kết hôn tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Hướng dẫn thủ tục đăng ký lại kết hôn tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Trong trường hợp Giấy chứng nhận kết hôn đã đăng ký trước đây bị mất, hư hỏng hoặc không còn được lưu trữ, công dân Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài có thể thực hiện thủ tục đăng ký lại kết hôn tại cơ quan đại diện Việt Nam theo Quyết định 3606/QĐ-BNG.