Nghị định 84/CP của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật dầu khí

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 84/CP NGÀY 17 THÁNG 12 NĂM 1996 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VIỆC THI HÀNH LUẬT DẦU KHÍ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Dầu khi ngày 6 tháng 7 năm 1993;

NGHỊ ĐỊNH:

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.- Nghị định này quy định chi tiết việc thi hành Luật dầu khí được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua ngày 6 tháng 7 năm 1993.
Điều 2.- Nghị định này được áp dụng đối với các hoạt động tìm kiếm, thăm do dầu khí; phát triển mỏ dầu khí; khai thác dầu khí, kể cả xử lý, thu gom, tàng trữ, vận chuyển dầu khí trong khu vực khai thác cho tới điểm giao nhận và định đoạt dầu khí.
Điều 3.- Các tổ chức, cá nhân được Nhà nước Việt Nam khuyến khích tiến hành các hoạt động dầu khí bao gồm:
1. Doanh nghiệp Nhà nước.
2. Doanh nghiệp được thành lập theo Luật công ty.
3. Doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo Luật Doanh nghiệp tư nhân.
4. Hợp tác xã.
5. Tổ chức và cá nhân nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.
6. Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Điều 4.- Các từ ngữ đã định nghĩa tại Điều 3 Luật dầu khí được áp dụng trong Nghị định này. Ngoài ra, trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. "Công trình cố định" là công trình được xây dựng, lắp đặt cố định và sử dụng để phục vụ các hoạt động dầu khí.
2. "Diện tích hợp đồng" là diện tích được xác định trên cơ sở các lô tìm kiếm thăm dò theo thoả thuận trong hợp đồng dầu khí hoặc điện tích còn lại sau khi hoàn trả diện tích.
3. "Điểm giao nhận" là điểm được Tổng công ty dầu khí Việt Nam chấp thuận mà ở đó dầu thô hoặc khí thiên nhiên được chuyển giao từ tàu chứa dầu, hoặc từ những phương tiện tàng chứa khác để chuyển đến tầu, các phương tiện tiếp nhận dầu khác hoặc đấu ra đường ống dẫn dầu khí.
4. "Định đoạt dầu khí" là việc chuyển quyền sở hữu dầu khí, kể cả việc bán và trao đổi dầu khí.
5. "Hợp đồng giao dịch sòng phẳng" là hợp đồng giao dịch giữa người mua và người bán trong quan hệ thị trường thông thường, không bao gồm các hợp đồng mua bán giữa nội bộ của một công ty, giữa các Chính phủ, giữa các tổ chức thuộc Chính phủ, hoặc bất cứ giao dịch trao đổi nào bị ảnh hưởng bởi những quan hệ thương mại không bình thường.
6. "Khí đồng hành" là khí thiên nhiên được tách ra trong quá trình khai thác và xử lý dầu thô.
7. "Năm hợp đồng" là khoảng thời gian 12 tháng dương lịch kể từ ngày hợp đồng dầu khí có hiệu lực hoặc từ ngày tròn năm.
8. "Phát triển mỏ" là quá trình chuẩn bị và đầu tư xây dựng công trình, khoan, lắp đặt thiết bị để đưa mỏ vào khai thác dầu khí kể từ khi mỏ đó được tuyên bố phát hiện có giá trị thương mại.
9. "Sản lượng dầu khí thực" là sản lượng dầu khí khai thác và giữ được từ diện tích hợp đồng, được đo tại điểm giao nhận.
CHƯƠNG II
HOẠT ĐỘNG DẦU KHÍ
Điều 5.- Trước khi tiến hành các hoạt động tìm kiếm thăm dò, Nhà thầu phải lập đề án tổng thể, chi tiết và chương trình công tác năm, tương ứng theo từng giai đoạn phù hợp với các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng dầu khí về thời hạn, công việc, tài chính và gửi cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam để xem xét chấp thuận.
Nếu thay đổi đề án, hoặc chương trình công tác năm đã được chấp thuận phải được sự đồng ý của Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
Thời hạn xem xét, chấp thuận không quá 90 ngày đối với đề án tổng thể và không quá 30 ngày đối với các đề án chi tiết và chương trình công tác năm kể từ khi nhận được hồ sơ.
Điều 6.- Trong trường hợp tự tiến hành các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí, Tổng Công ty dầu khí Việt Nam phải trình các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề án và chương trình công tác.
Điều 7.- Tổ chức, cá nhân khi tiến hành các hoạt động dầu khí, phải áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về an toàn, môi trường, kỹ thuật và công nghệ có liên quan.
Trong trường hợp chưa có tiêu chuẩn Việt Nam, tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí được áp dụng các tiêu chuẩn trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là một bên tham gia ký kết.
Việc áp dụng các tiêu chuẩn khác phải được phép của Bộ khoa học - Công nghệ và Môi trường.
Điều 8.- Tổ chức, cá nhân trước khi tiến hành các hoạt động dầu khí phải xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền các tài liệu sau đây:
- Báo cáo đánh giá tác động môi trường;
- Chương trình quản lý an toàn và đánh giá mức độ rủi ro kèm theo các biện pháp giảm thiểu tối đa.
- Kế hoạch ứng cứu khẩn cấp các sự cố bao gồm cả các biện pháp kỹ thuật và việc sử dụng các phương tiện, thiết bị, dụng cụ để khắc phục sự cố.
Điều 9.- Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải thực hiện các công việc có liên quan đến bảo vệ môi trường và an toàn sau đây:
1. Lập vùng an toàn cho các công trình dầu khí và máy móc thiết bị theo quy định tại Điều 12 Nghị định này.
2. Triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn theo chương trình quản lý an toàn đã được phê duyệt.
3. Thực hiện chương trình quan trắc các thay đổi về môi trường, thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường và các biện pháp để ngăn ngừa ô nhiễm và khắc phục hậu quả do sự cố ô nhiễm môi trường gây ra theo quy định của Luật bảo vệ môi trường.
4. Hạn chế tới mức thấp nhất những tác động làm ảnh hưởng hoặc đưa đến hậu quả xấu cho môi trường như ô nhiễm đất, nước, rừng, không khí, gây hại cho hệ thực vật và động vật, làm mất cân bằng sinh thái hoặc làm ảnh hưởng xấu tới môi trường dân sinh.
5. Cập nhật số liệu và hoàn thiện báo cáo đánh giá rủi ro, báo cáo việc thực hiện kế hoạch ứng cứu khẩn cấp.
6. Ghi chép đầy đủ các sự cố, tai nạn xảy ra.
7. Thông báo khẩn cấp và áp dụng ngay các biện pháp khắc phục trong trường hợp bị tai nạn hoặc sự cố.
8. áp dụng các biện pháp để bảo đảm an toàn lao động, điều kiện và môi trường lao động cho người lao động.
Điều 10.- Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về thiệt hại đối với người, tài sản và môi trường; kể cả việc làm sạch và khôi phục hiện trạng môi trường do tác hại trực tiếp hay gián tiếp của các hoạt động dầu khí như hiện tượng tràn dầu, thải bừa bãi các chất thải công nghiệp hoặc sinh hoạt.
Điều 11.- Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên dầu khí và đạt được sự thu hồi dầu khí tối đa phù hợp với thông lệ trong công nghiệp dầu khí quốc tế.
Điều 12.- Tuỳ thuộc vào điều kiện địa lý, xã hội của nơi tiến hành các hoạt động dầu khí, cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quy định quy mô của vùng an toàn xung quanh các công trình phục vụ tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí trên đất liền.
Khoảng cách vùng an toàn cho các công trình biển là 500m trở ra tính từ rìa ngoài cùng của các công trình hoặc từ vị trí thả neo đối với các phương tiện nổi, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt do cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quy định. Trong phạm vi hai hải lý tính từ rìa ngoài cùng của công trình, các phương tiện, tàu thuyền không được thả neo.
Trừ các trường hợp đặc biệt do cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quy định, người không có trách nhiệm không được phép xâm nhập và hoạt động trong vùng an toàn.
Điều 13.- Trong khi tiến hành khoan, Tổ chức, cá nhân phải thực hiện các quy định sau đây:
1. Khoan theo thiết kế hoặc thiết kế có thay đổi đã được duyệt.
2. Không được khoan ra ngoài diện tích hợp đồng dầu khí.
3. Lưu giữ toàn bộ tài liệu và mẫu vật thu được trong quá trình khoan và nộp cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
4. Thông báo kịp thời cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam các tài nguyên khác phát hiện được trong khi khoan.
Tổ chức, cá nhân tiến hành khoan còn phải tuân thủ các quy định khác trong các Quy chế hiện hành.
Điều 14.- Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác dầu khí phải tuân thủ các quy định trong Quy chế khai thác hiện hành, thực hiện đúng theo nội dung kế hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển mỏ dầu khí đã được chấp thuận; phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật và thiết bị tiên tiến nhằm thu hồi dầu khí tối đa nhưng không gây hại đến lòng đất, môi trường sinh thái và an toàn mỏ.
Các thiết bị đo phải bảo đảm tính hợp pháp và tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về đo lường.
Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác dầu khí phải có chương trình khảo sát giếng, lấy mẫu phân tích tính chất, thành phần dầu, khí, nước của từng đối tượng riêng biệt theo định kỳ; phải báo cáo phân tích khai thác dầu khí của từng giếng, của từng vỉa riêng biệt, của toàn mỏ và các chỉ tiêu khác theo định kỳ tháng, quý, năm cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
Điều 15.- Chính phủ Việt Nam có quyền sử dụng các thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động dầu khí, kể cả đường ống, kho chứa do tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí đang quản lý và sử dụng, với điều kiện không gây cản trở cho các hoạt động dầu khí.
Điều 16.- Nhà thầu phải lập chương trình, kế hoạch tháo dỡ các công trình cố định và trình Tổng công ty dầu khí Việt Nam phê duyệt. Chi phí cho việc tháo dỡ do Nhà thầu gánh chịu và được tính vào chi phí dầu khí được thu hồi.
Trong trường hợp tự tiến hành các hoạt động dầu khí, Tổng công ty dầu khí Việt Nam phải lập chương trình, kế hoạch tháo dỡ các công trình cố định trình cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền có thể yêu cầu tổ chức, cá nhân tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần các công trình cố định.
Điều 17.- Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khi phải mua bảo hiểm phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế trong công nghiệp dầu khí, đặc biệt là bảo hiểm các công trình phục vụ hoạt động dầu khí, bảo hiểm ô nhiễm môi trường, bảo hiểm tính mạng con người, bảo hiểm tài sản và trách nhiệm dân sự bên thứ ba.
Bảo hiểm được ưu tiên mua của các công ty bảo hiểm Việt Nam hoặc có thể mua của công ty bảo hiểm khác.
Điều 18.- Tổng công ty dầu khí Việt Nam phải nộp cho cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí những báo cáo chủ yếu sau đây:
1. Các phương án, kế hoạch hoạt động dầu khí dài hạn và hàng năm.
2. Tổng hợp về việc thực hiện và kết quả các hoạt động dầu khí hàng năm và hàng quý.
3. Chi tiết về các dự án kinh tế, kỹ thuật để tiến hành các hoạt động dầu khí.
4. Các sự kiện, sự cố quan trọng liên quan đến hoạt động dầu khí đã giải quyết hoặc cần giải quyết gấp.
5. Các báo cáo khác theo yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí.
Thời hạn và nội dung từng loại báo cáo do cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quy định.
Điều 19.- Nhà thầu phải cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, báo cáo về hoạt động dầu khí cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
Các cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu Nhà thầu cung cấp thông tin, báo cáo khi cần thiết, phù hợp với chức năng quản lý Nhà nước.
Điều 20.- Các báo cáo và thông tin phải được giữ bí mật theo quy định của pháp luật.
Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải lưu trữ tại Việt Nam các tài liệu gốc, mẫu vật và báo cáo; được phép xuất và tái nhập các tài liệu, mẫu vật đó theo các quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí và Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
CHƯƠNG III
HỢP ĐỒNG DẦU KHÍ
Điều 21.- Hợp đồng mẫu quy định tại Điều 15 Luật dầu khí chỉ bao gồm những nội dung cơ bản. Tuỳ thuộc vào hình thức hợp đồng dầu khí và các điều kiện khác, các bên ký hợp đồng phải chi tiết hoá những điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng cũng như trách nhiệm của từng bên đối với Nhà nước Việt Nam phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 22.- Tổng công ty dầu khí Việt Nam và đối tác được lựa chọn hình thức hợp đồng theo quy định tại Điều 15 Luật dầu khí, kể cả hợp đồng khảo sát địa vật lý hoặc các hình thức khác.
Trong trường hợp hợp đồng dầu khí được ký kết dưới dạng hợp đồng liên doanh thì Xí nghiệp liên doanh được hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ như Nhà thầu.
Đối tượng của hợp đồng dầu khí có thể bao gồm toàn bộ các hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí hoặc chỉ bao gồm từng hoạt động riêng biệt.
Điều 23.- Tổng công ty dầu khí Việt Nam phải tổ chức đấu thầu theo thể thức đấu thầu quy định tại Điều 16 Luật dầu khí.
Trong trường hợp được Chính phủ Việt Nam cho phép, Tổng công ty dầu khí Việt Nam có thể ký kết các hợp đồng dầu khí theo hình thức lựa chọn hoặc đàm phán song phương.
Điều 24.- Trong thông báo gọi thầu, Tổng công ty dầu khí Việt Nam có trách nhiệm cung cấp các thông tin sau:
1. Nội dung đấu thầu.
2. Các điều kiện đấu thầu.
3. Lệ phí dự thầu.
4. Các chi tiết khác về thủ tục đấu thầu.
Điều 25.- Tổ chức, cá nhân muốn tham gia dự thầu phải gửi hồ sơ bao gồm: Đơn xin tham gia, chứng chỉ về tư cách pháp nhân, giải trình về khả năng tài chính, kỹ thuật và các cam kết dự thầu.
Trong trường hợp tổ chức và một tổ hợp hoặc liên doanh thì phải đệ trình chi tiết các mối quan hệ, trách nhiệm, tỷ lệ góp vốn hoặc cổ phần của từng thành viên.
Điều 26.- Tổ chức, cá nhân trúng thầu hoặc được lựa chọn làm đối tác sẽ được quyền ký kết hợp đồng dầu khí với Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
Tổng công ty dầu khí Việt Nam có trách nhiệm thông báo cho tổ chức, cá nhân trúng thầu hoặc đối tác đã được chọn về thời gian và địa điểm ký kết hợp đồng dầu khí. Nếu tổ chức, cá nhân trúng thầu hoặc đối tác đã được chọn không đến ký hợp đồng dầu khí theo thời gian đã thông báo thì quyết định trúng thầu hoặc Quyết định lựa chọn đối tác có thể bị huỷ bỏ.
Điều 27.- Giai đoạn tìm kiếm thăm dò quy định tài Điều 17 Luật dầu khí có thể được chia thành các giai đoạn nhỏ. Thời hạn của các giai đoạn nhỏ do các bên ký kết hợp đồng dầu khí thoả thuận.
Điều 28.- Nhà thầu phải hoàn trả diện tích tìm kiếm thăm dò theo quy định sau đây:
1. Không ít hơn 20% diện tích hợp đồng ban đầu vào cuối mỗi giai đoạn nhỏ.
2. Toàn bộ diện tích hợp đồng còn lại sau khi kết thúc giai đoạn tìm kiếm thăm dò trừ các diện tích phát triển mỏ, khai thác dầu khí và diện tích đang thẩm lượng.
Nhà thầu có thể tự nguyện hoàn trả diện tích vào bất kỳ lúc nào trong giai đoạn tìm kiếm thăm dò. Các vùng đã hoàn trả tự nguyện được trừ khỏi nghĩa vụ hoàn trả diện tích. Tuy nhiên việc hoàn trả diện tích tự nguyện không làm giảm các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng dầu khí.
Diện tích hoàn trả phải tạo thành các dạng hình học đơn giản.
Các công trình cố định phải được tháo dỡ khỏi diện tích hoàn trả theo quy định tại Điều 16 Nghị định này.
Điều 29.- Nhà thầu và Tổng công ty dầu khí Việt Nam phải thoả thuận chương trình công việc trong giai đoạn tìm kiếm thăm do với các cam kết tối thiểu về khối lượng khảo sát địa vật lý, khối lượng giếng khoan, các nghiên cứu tổng hợp khác, các cam kết về đào tạo, tuyển dụng, chuyển giao công nghệ.
ước tính chi phí cho cam kết công việc tối thiểu nói trên được coi là cam kết tài chính tối thiểu. Nhà thầu được coi là hoàn thành cam kết tài chính tối thiểu khi các cam kết công việc tối thiểu đã hoàn thành.
Trong trường hợp Nhà thầu xin chấm dứt hợp đồng, nhưng chưa hoàn thành các cam kết tối thiểu thì phải hoàn trả cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam một khoản tiền tương ứng với khối lượng công việc đã cam kết thực hiện nhưng chưa hoàn thành.
Điều 30.- Trong giai đoạn tìm kiếm thăm dò, nếu nhà thầu có kế hoạch tiến hành phát triển mỏ và khai thác dầu khí thì phải trình cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí phê duyệt theo các quy định của Luật dầu khí và Nghị định này.
Điều 31.- Sau khi phát hiện thấy dầu khí, Nhà thầu phải thông báo kịp thời và báo cáo các kết quả nghiên cứu, đánh giá và các tài liệu có liên quan cho cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền và Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
Nhà thầu phải lập chương trình thẩm lượng mỏ và trình Tổng công ty dầu khí Việt Nam phê duyệt.
Nhà thầu phải thông báo kết quả thẩm lượng cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam. Nếu kết quả thẩm lượng cho thấy mỏ có giá trị thương mại, nhà thầu phải tuyên bố phát hiện thương mại.
Nhà thầu phải trình cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền và Tổng công ty dầu khí Việt Nam báo cáo trữ lượng, kế hoạch đại cương, kế hoạch phát triển mỏ.
Tổng công ty dầu khí Việt Nam và Nhà thầu phải thoả thuận trong hợp đồng dầu khí các điều khoản về căn cứ xác định mỏ thương mại, thời hạn trình chương trình thẩm lượng mỏ, kế hoạch đại cương và kế hoạch phát triển mỏ.
Dự án phát triển và khai thác mỏ chỉ được tiến hành sau khi cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Sau khi được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, nếu Nhà thầu không tiến hành phát triển mỏ và khai thác dầu khí trong thời hạn đã quy định trong văn bản phê duyệt thì cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền được quyền thu hồi mỏ.
Điều 32.- Trong giai đoạn khai thác dầu khí, Nhà thầu có thể sử dụng dầu khí sản xuất được của diện tích hợp đồng cho các hoạt động khai thác theo định mức tiêu hao công nghệ được Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường chấp thuận và phù hợp với thông lệ trong công nghiệp dầu khí quốc tế.
Điều 33.- Trong quá trình khai thác dầu khí, Nhà thầu phải nộp các báo cáo về sản lượng khai thác, thành phần, tỷ trọng dầu khí khai thác được của từng mỏ, từng đối tượng khai thác.
Báo cáo trên phải bao gồm cả thông tin về số lượng dầu khí sử dụng để phục vụ khai thác, số dầu khí hao hụt hoặc bị đốt bỏ.
Điều 34.- Nhà thầu có thể sử dụng khí đồng hành khai thác được trong diện tích hợp đồng làm nhiên liệu phục vụ cho hoạt động dầu khí tại mỏ, hoặc bơm trở lại mỏ.
Chính phủ Việt Nam có quyền sử dụng không phải trả tiền khí đồng hành mà Nhà thầu có ý định đốt nếu việc này không gây cản trở cho hoạt động của Nhà thầu. Trong trường hợp đó Nhà thầu phải tạo điều kiện để công việc trên được thực hiện thuận lợi.
Khí đồng hành chỉ được đốt bỏ khi được cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí cho phép.
Điều 35.- Trong trường hợp mỏ dầu khí vượt quá phạm vi của diện tích hợp đồng dầu khí thì Tổng công ty dầu khí Việt Nam và Nhà thầu lập dự án hợp tác để khai thác toàn bộ mỏ đó trình Chính phủ Việt Nam xem xét, phê duyệt.
Điều 36.- Trong trường hợp mỏ dầu khí của diện tích hợp đồng dầu khí kéo dài sang diện tích của các hợp đồng dầu khí khác thì các Nhà thầu, các Bên liên doanh phải thoả thuận để khai thác chung.
Mọi thoả thuận giữa các Nhà thầu, các Bên liên doanh về việc phát triển mỏ, khai thác chung phải được trình Chính phủ Việt Nam xem xét, phê duyệt.
Điều 37.- Tổng công ty dầu khí Việt Nam thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động dầu khí của Nhà thầu theo quy định trong hợp đồng dầu khí.
Các cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam thực hiện quyền kiểm tra, thanh tra, giám sát Tổng công ty dầu khí Việt Nam và Nhà thầu theo chức năng quản lý Nhà nước của mình.
CHƯƠNG IV
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG DẦU KHÍ
Điều 38.- Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí được quyền ký kết các hợp đồng mua vật tư thiết bị hoặc hợp đồng dịch vụ dầu khí với Nhà thầu phụ. Nhà thầu phụ được quyền ký kết các hợp đồng cung cấp vật tự, thiết bị và dịch vụ với các tổ chức, cá nhân khác.
Căn cứ vào năng lực của Nhà thầu phụ và các điều kiện cụ thể ghi trong hợp đồng ký kết giữa Nhà thầu và Nhà thầu phụ, Tổng công ty dầu khí Việt Nam có quyền chấp nhận hoặc từ chối các hợp đồng nói trên.
Nhà thầu và Nhà thầu phụ phải ưu tiên mua thiết bị, vật tư do Việt Nam chế tạo và cung cấp; ưu tiên ký kết hợp đồng dịch vụ, kể cả dịch vụ thăm dò địa chất, khoan, lặn, tầu thuyền và căn cứ trên bờ với các xí nghiệp tương ứng trong lãnh thổ Việt Nam trên nguyên tắc bảo đảm tính cạnh tranh về giá cả và chất lượng.
Điều 39.- Nhà thầu phải có Nội quy lao động, thang bảng lương, trả thưởng, phụ cấp và các chế độ khác đối với lao động người Việt Nam và người nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam có tính đến thông lệ được áp dụng trong công nghiệp dầu khí quốc tế; phải có biểu biên chế, kế hoạch tuyển dụng lao động và kế hoạch đào tạo hàng năm.
Các văn bản trên phải được Tổng công ty dầu khí Việt Nam xem xét trước khi đăng ký theo quy định của Bộ luật lao động.
Điều 40. Tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành hoạt động dầu khí phải sử dụng tối đa số lao động là người Việt Nam và chỉ tuyển dụng người nước ngoài làm những chức danh mà người Việt Nam chưa thể dảm nhận nhưng phải có kính phí, chương trình đào tạo để người Việt Nam sớm thay thế người nước ngoài.
Việc tuyển dụng lao động là người Việt Nam phải thông qua Tổ chức dịch vụ việc làm theo quy định tại Điều 18, Điều 132 Bộ luật lao động, Việc tuyển dụng lao động là người nước ngoài phải có giấy phép của Bộ lao động - Thương binh và xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 132 Bộ Luật lao động.
Tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành hoạt động dầu khí được trực tiếp tuyển chọn và ký kết hợp đồng lao động với người có giấy phép lao động. Đối với lao động kỹ thuật, quản lý thì phải thông qua Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
Tổng công ty dầu khí Việt Nam có trách nhiệm là đầu mối quản lý số lao động là người Việt Nam làm việc cho Tổ chức, cá nhân nước ngoài, trong việc giám sát thực hiện các hợp đồng lao động đã ký kết.
Điều 41. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí được miễn thuế nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất đối với các thiết bị, vật tư cần thiết cho hoạt động dầu khí.
Nếu chuyển giao hoặc tiêu thụ các vật tư, thiết bị này tại Việt Nam không nhằm mục đích phục vụ các hoạt động dầu khí thì phải được phép của Bộ thương mại và phải nộp thuế nhập khẩu và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nếu chuyển nhượng các vật tư, thiết bị này nhằm mục đích phục vụ các hoạt động dầu khí thì được miễn thuế nhập khẩu nhưng phải nộp các loại thuế khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nếu chuyển giao quyền sở hữu các vật tư, thiết bị này cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam theo thoả thuận trong hợp đồng dầu khí thì Nhà thầu được miễn thuế nhập khẩu và các loại thuế khác. Tổng công ty dầu khí Việt Nam phải báo cáo Bộ Tài chính về việc nhận chuyển giao này để làm thủ tục nhận vốn bổ sung và nộp các loại thuế có liên quan đến chuyển quyền sở hữu tài sản.
Bộ thương mại, Bộ tài chính, Tổng cục Hải quan và Tổng công ty dầu khí Việt Nam phối hợp xác định danh mục các vật tư, thiết bị được miễn thuế nhập khẩu, thuế tạm nhập, tái xuất.
Điều 42.- Tổ chức, cá nhân nước ngoài ký kết các hợp đồng dịch vụ với Nhà thầu và Nhà thầu phụ được phép mở Văn phòng hoặc trụ sở điều hành tại nơi tiến hành các dịch vụ trên nguyên tắc tuân thủ các quy định của Việt Nam về việc xin phép đăng ký hoạt động, đăng ký cư trú, thuê lao động và thuê nhà làm trụ sở và thực hiện mọi nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam.
CHƯƠNG V
THUẾ TÀI NGUYÊN
Điều 43.- Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác dầu phải nộp thuế tài nguyên. Thuế tài nguyên đối với dầu thô được tính trên cơ sở luỹ tiến từng phần của tổng sản lượng dầu thô thực, khai thác trong mỗi ký nộp thuế dựa theo sản lượng dầu thô bình quân mỗi ngày khai thác được của toàn bộ diện tích hợp đồng dầu khí với thuế suất sau đây:
Sản lương khai thác                            Trên bờ và độ sâu            Độ sâu trên
đến 200m nước     200m nước
- Dưới 50.000 thùng/ngày:                                 8%                               6%
- Từ 50.001 đến 75.000 thùng/ngày:                 10%                              8%
- Từ 75.001 đến 100.000 thùng/ngày:               15%                             10%
- Từ 100.001 đến 150.000 thùng/ngày:             20%                             15%
- Trên 150.000 thùng/ngày:                               25%                             20%
Trong trường hợp đặc biệt, tuỳ thuộc các điều kiện địa lý, kinh tế kỹ thuật cụ thể của mỏ, thuế suất thuế tài nguyên đối với dầu thô có thể được tính cao hơn hoặc bằng một mức thuế cố định do Chính phủ Việt Nam quyết định.
Điều 44.- Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác khí thiên nhiên phải nộp thuế tài nguyên.
Thuế tài nguyên đối với khí thiên nhiên được tính trên cơ sở luỹ tiến tùng phần của tổng sản lượng khí thực, khai thác trong mỗi kỳ nộp thuế, dựa theo sản lượng khí bình quân mỗi ngày khai thác được của toàn bộ diện tích hợp đồng dầu khí với thuế suất sau đây:
     Sản lượng khai thác                       Trên bờ và độ sâu            Độ sâu trên
  đến 200m nước             200m nước
- Dưới 5 triệu m3/ngày:                                      0%                               0%
- Từ 5 đến 10 triệu m3/ngày:                  5%                               3%
- Trên 10 triệu m3/ngày:                        10%                              6%
Trong trường hợp đặc biệt, tuỳ thuộc vào các điều kiện địa lý, kinh tế kỹ thuật cụ thể của mỏ, thuế suất thuế tài nguyên đối với khí thiên nhiên có thể được ấn định bằng mức thuế cố định do Chính phủ Việt Nam quyết định.
Điều 45.- Trong trường hợp Tổng công ty dầu khí Việt Nam tiến hành khai thác dầu khí thì Tổng công ty dầu khí Việt Nam là người nộp thuế.
Trong trường hợp Nhà thầu tiến hành khai thác dầu khí thì Nhà thầu là người nộp thuế.
Điều 46.- Thuế tài nguyên được thu bằng dầu khí hoặc bằng tiền, hoặc một phần bằng tiền và một phần bằng dầu khí tuỳ theo sự lựa chọn của cơ quan thuế.
Cơ quan thuế phải thông báo cho Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác dầu khí trước 6 tháng về việc họ phải nộp thuế tài nguyên bằng tiền hay bằng dầu khí.
Nếu thuế tài nguyên được thu bằng tiền thì tiền nộp thuế là Đôla Mỹ hay bằng tiền tự do chuyển đổi khác được Bộ Tài chính chấp thuận. Trong trường hợp dầu khí được bán bằng đồng Việt Nam thì tiền nộp thuế tài nguyên là đồng Việt Nam.
Điều 47.- Giá tính thuế tài nguyên đối với dầu thô là giá FOB tại điểm giao nhận theo công bố giá của cơ quan được Chính phủ Việt Nam uỷ quyền trên cơ sở tham khảo giá quốc tế.
Trong trường hợp không có công bố giá thì giá tính thuế tài nguyên đối với dầu thô là giá trung bình nhân của dầu thô do người bán bán theo giá FOB tại điểm giao nhận theo hợp đồng mua bán sòng phẳng trong kỳ nộp thuế.
Trong trường hợp không có giá FOB bán theo hợp đồng sòng phẳng thì giá tính thuế tài nguyên đối với dầu thô được tính dựa trên giá FOB theo thị trường sòng phẳng trong thương mại quốc tế đối với loại dầu thô đó trong kỳ tính thuế có xét đến những giá bán của một tập hợp thích hợp ba loại dầu tương tự từ các nước Đông Nam á với những điều chỉnh thích đáng theo chất lượng, địa điểm và các yếu tố có liên quan khác.
Giá tính thuế tài nguyên đối với khí thiên nhiên là giá tại điểm giao nhận theo công bố giá của cơ quan được Chính phủ Việt Nam uỷ quyền trên cơ sở tham khảo giá quốc tế.
Điều 48.- Thuế tài nguyên được tạm nộp theo tháng dựa trên sản lượng khai thác dầu khí của tháng trước và được quyết toán theo từng Quý.
Điều 49.- Nếu thuế tài nguyên được thu bằng dầu khí thì địa điểm nộp thuế là điểm giao nhận.
Trong trường hợp cơ quan thuế yêu cầu nộp thuế tài nguyên tại địa điểm khác thì người nộp thuế được trừ vào phần thuế tài nguyên phải nộp chi phí vận tải và các chi phí trực tiếp khác phát sinh do thay đổi địa điểm.
CHƯƠNG V
THUẾ LỢI TỨC, CÁC LOẠI THUẾ KHÁC VÀ LỆ PHÍ
Điều 50.- Tổ chức, cá nhân tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí phải nộp thuế lợi tức theo quy định của Luật Dầu khí và Nghị định này.
Trong trường hợp Tổng công ty dầu khí Việt Nam tiến hành khai thác dầu khí thì Tổng công ty dầu khí Việt Nam là người nộp thuế.
Trong trường hợp nhà thầu tiến hành khai thác dầu khí thì nhà thầu là người nộp thuế.
Điều 51.- Việc xem xét giảm hoặc miễn thuế lợi tức theo quy định tại Điều 33 Luật dầu khí được thực hiện cho những đối tượng nộp thuế tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí trong điều kiện địa lý, kinh tế, kỹ thuật khó khăn.
Điều 52.- Căn cứ tính thuế lợi tức là tổng lợi tức chịu thuế trong kỳ nộp thuế và thuế suất đã quy định tại Điều 33 Luật Dầu khí.
Tổng lợi tức chịu thuế bằng tổng doanh thu trừ khi giá trị của dầu khí đã nộp thuế tài nguyên, tiền nộp các loại thuế, lệ phí ngoài thuế lợi tức, các khoản chi phí hợp lệ được phép thu hồi trong kỳ nộp thuế.
Điều 53.- Tổng doanh thu để tính lợi tức chịu thuế là toàn bộ giá trị của dầu khí đã bán hoặc định đoạt và tất cả các thu nhập khác có liên quan đến hoạt động dầu khí.
Giá átị của dầu khí đã bán là giá trị dầu khí được bán theo các hợp đồng sòng phẳng tính theo giá FOB thực hiện tại điểm giao nhận.
Đối với các trường hợp dầu khí không được bán theo hợp đồng sòng phẳng, hoặc toàn bộ dầu khí được phân chia giữa các bên bằng hiện vật thì giá trị của dầu khí đã bán, giá trị phần dầu khí đã nộp thuế tài nguyên, giá trị phần dầu khí thu hồi vốn, giá trị phần dầu khí lãi để tính thuế chuyển lợi nhuận về nước được tính bằng cách lấy khối lượng dầu khí tương ứng nhân với giá trị một đơn vị sản phẩm theo giá đã quy định tại Điều 47 Nghị định này.
Điều 54.- Các chi phí không được tính vào chi phí được thu hồi bao gồm:
1. Các chi phí phát sinh trước khi hợp đồng dầu khí có hiệu lực, trừ trường hợp đã được thoả thuận trong hợp đồng dầu khí hoặc được cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí chấp nhận.
2. Các loại hoa hồng dầu khí và các cam kết không thu hồi khác đã thoả thuận trong hợp đồng dầu khí.
3. Lãi vay đối với số tiền dầu tư cho tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí.
4. Tiền nộp phạt, bồi thường thiệt hại và các thiệt hại do lỗi của tổ chức, cá nhân đó gây ra.
5. Tiền nộp thuế lợi tức tại Việt Nam và ở nước ngoài.
6. Những thiệt hại đã được bảo hiểm đền bù.
7. Đóng góp tài trợ vì mục đích xã hội, từ thiện và các chi phí mang tính chất quà tặng.
8. Những chi phí không hợp lý, hợp lệ không thể chứng minh được do Tổng công ty dầu khí Việt Nam và các tổ chức Việt Nam có thẩm quyền phát hiện trong kiểm toán, quyết toán thuế và thanh tra.
Điều 55.- Thuế lợi tức được thu bằng tiền, đồng tiền nộp thuế là Đôla Mỹ hoặc bằng tiền tự do chuyển đổi được Bộ Tài chính chấp thuận. Trong trường hợp dầu khí được bán bằng đồng Việt Nam thì tiền nộp thuế lợi tức là đồng Việt Nam. Thuế lợi tức được tạm nộp hàng quý và quyết toán theo năm.
Điều 56.- Tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành các hoạt động dầu khí phải nộp các loại thuế, lệ phí và các khoản thu theo pháp luật Việt Nam trừ khi Luật dầu khí có quy định khác.
CHƯƠNG VI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG DẦU KHÍ
Điều 57.- Chính phủ Việt Nam thống nhất quản lý về hoạt động dầu khí. Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các hoạt động dầu khí.
Căn cứ vào chính sách phát triển công nghiệp dầu khí, cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí trình Chính phủ Việt Nam quyết định các vùng thuộc dự trữ quốc gia; các vùng do Tổng công ty dầu khí Việt Nam tự tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí; các vùng hợp tác với các Nhà thầu; các vùng cần khuyến khích đầu tư bằng các điều kiện ưu đãi.
Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí trình Chính phủ Việt Nam phương án hợp tác quốc tế về tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí.
Điều 58.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quyết định việc phân định, điều chỉnh giới hạn các lô tìm kiếm thăm dò dầu khí. Chính phủ Việt Nam quyết định các vấn đề về hợp tác tiến hành các hoạt động dầu khí tại các vùng chồng lấn với nước ngoài.
Điều 59.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí xem xét, trình Chính phủ Việt Nam chuẩn y hợp đồng dầu khí, cho phép chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của hợp đồng dầu khí ký kết giữa Tổng công ty dầu khí Việt Nam với các nhà thầu.
Đối với các hợp đồng dầu khí ký kết giữa Tổng công ty dầu khí Việt Nam với các Nhà thầu nước ngoài, Chính phủ Việt Nam giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 60.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí trong phạm vi quyền hạn của mình ban hành các văn bản hướng dẫn, các quy trình quy phạm, quy chế kỹ thuật về tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí.
Điều 61.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quyết định các vấn đề sau đây:
1. Kiểm tra, thanh tra các hoạt động dầu khí.
2. Trình Chính phủ Việt Nam các vấn đề về khuyến khích hoặc hạn chế xuất khẩu dầu khí.
3. Yêu cầu Nhà thầu bán một phần dầu khí cho Việt Nam sử dụng.
4. Các vấn đề quan trọng khác có liên quan đến hoạt động dầu khí.
Điều 62.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí phối hợp, hướng dẫn, kiểm tra các ngành và địa phương về các vấn đề có liên quan đến hoạt động dầu khí.
Điều 63.- Để bảo đảm cho việc tiến hành các hoạt động dầu khí, các Bộ, ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ trong việc cấp đất, sử dụng hợp lý các vùng nước, nhất là các vùng cần bảo đảm an ninh quốc gia, vùng nuôi trồng thuỷ sản hoặc vùng nghỉ mát, du lịch.
CHƯƠNG VII
THANH TRA CÁC HOẠT ĐỘNG DẦU KHÍ
Điều 64.- Thanh tra các hoạt động dầu khí là thanh tra chuyên ngành nhằm bảo đảm việc chấp hành Luật dầu khí và các văn bản pháp quy liên quan đến các hoạt động dầu khí. Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí tổ chức thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành dầu khí và ra quyết định thanh tra các hoạt động dầu khí.
Quyết định thanh tra bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Thành phần đoàn thanh tra.
2. Đối tượng thanh tra.
3. Nội dung thanh tra.
4. Địa điểm thanh tra.
5. Thời hạn thanh tra.
6. Những yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí chịu sự thanh tra.
Điều 65.- Để thực hiện nhiệm vụ, đoàn thanh tra có các quyền hạn sau đây:
1. Được tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành thanh tra.
2. Mang theo phương tiện kỹ thuật cần thiết phục vụ cho hoạt động thanh tra.
3. Yêu cầu đối tượng chịu sự thanh tra cung cấp tài liệu cần thiết trong thời hạn nhất định.
Nếu quá thời hạn đó, yêu cầu của Đoàn thanh tra không được thực hiện thì Đoàn thanh tra ra quyết định về việc áp dụng các biện pháp cần thiết khác để thu thập tài liệu theo quy định của pháp luật Việt Nam.
4. Ra quyết định đình chỉ tạm thời đối với các hoạt động dầu khí có nguy cơ gây tai nạn, tổn thất nghiêm trọng cho người, tài sản và môi trường.
Thời hạn đình chỉ tạm thời không được vượt quá 15 ngày. Trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm ra quyết định, đoàn thành tra phải thông báo quyết định của mình cho cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền và đề nghị biện pháp xử lý. Trong thời hạn 15 ngày, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phải ra quyết định xử lý.
5. Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra các đơn vị hoạt động dầu khí có vốn đầu tư nước ngoài.
6. Kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về dầu khí.
Điều 66.- Quyết định của đoàn thanh tra được thông báo cho đối tượng chịu sự thanh tra, trong đó ghi rõ các kết luận và kiến nghị của đoàn thanh tra.
Nếu đối tượng chịu sự thanh tra không đồng ý với quyết định của Đoàn thanh tra thì trong thời hạn 15 ngày, đối tượng chịu sự thanh tra đó được quyền khiếu nại lên cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phải trả lời về việc giải quyết khiếu nại đó.
Trong khi chờ kết quả giải quyết khiếu nại, đối tượng chịu sự thanh tra phải chấp hành quyết định của đoàn thanh tra.
Điều 67.- Nếu quyết định của đoàn thanh tra không được đối tượng chịu sự thanh tra tự nguyện thi hành thì được giải quyết bằng các biện pháp cưỡng chế hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt hành chính.
Điều 68.- Khi tiến hành thanh tra, đoàn thanh tra phải tuân thủ các quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
CHƯƠNG VIII
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 69.- Mức phạt đối với các vi phạm quy định tại Điều 43 Luật dầu khí được chi tiết như sau:
1. Tiến hành các hoạt động dầu khí trái phép thì bị phạt tới 100.000 đôla Mỹ hoặc tương đương.
2. Không tuân thủ các Quy chế quy định tại Điều 60 Nghị định này, gây thiệt hại cho tài nguyên dầu khí hoặc môi trường, hoặc làm thiệt hại tài sản Nhà nước, cá nhân thì ngoài việc phải bồi thường thiệt hại còn bị phạt tới 100.000 đôla Mỹ hoặc tương đương.
3. Tiến hành các hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí vượt quá phạm vi diện tích hợp đồng khi chưa được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cho phép thì bị phạt tới 50.000 đôla Mỹ.
4. Khai man, trốn thuế tài nguyên, thuế lợi tức và các loại thuế khác thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế nộp thiếu, còn phải nộp tiền phạt về khai man, trốn thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam.
5. Không thông báo cho cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí và Tổng công ty dầu khí Việt Nam những khoáng sản khác ngoài dầu khí hoặc cổ vật, tài sản có giá trị được phát hiện trong diện tích hợp đồng dầu khí thì bị phạt tới 10.000 đôla Mỹ hoặc tương đương và bị tịch thu các cổ vật, tài sản đó.
6. Ngăn cản các hoạt động thanh tra thì bị phạt tới 10.000 đôla Mỹ hoặc tương đương.
Ngoài những quy định về mức phạt trên đây, tổ chức, cá nhân có các vi phạm hành chính khác sẽ bị xử lý theo quy định của Pháp lệnh Xử phạt hành chính.
Điều 70.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí ra quyết định về việc xử lý các vi phạm và mức phạt quy định tại Điều 69 Nghị định này.
Điều 71.- Thẩm quyền xử lý các vi phạm trên đây được quy định như sau:
1. Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí xử lý các vi phạm và định mức phạt tiền quy định tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5 Điều 69 Nghị định này.
2. Trưởng đoàn thanh tra xử lý vi phạm và định mức phạt tiền quy định tại điểm 6 Điều 69 Nghị định này.
CHƯƠNG IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 72.- Hiệp định thành lập Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsovpetro và các hợp đồng dầu khí đã ký kết trước khi ban hành Luật dầu khí và Nghị định này được tiếp tục thực hiện các quyền lợi kinh tế về thuế suất, cơ chế nộp thuế, tỷ lệ chia dầu khí lãi, tỷ lệ dầu khí thu hồi chi phí đã cam kết trong Hiệp định và các hợp đồng dầu khí này.
Điều 73.- Các cơ quan quản lý Nhà nước, trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
Điều 74.- Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Mọi quy định liên quan đến hoạt động dầu khí trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
Điều 75.- Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tổng công ty dầu khí Việt Nam và các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Thuộc tính văn bản
Nghị định 84/CP của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật dầu khí
Cơ quan ban hành: Chính phủ Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 84/CP Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Nghị định Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành: 17/12/1996 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Tài nguyên-Môi trường
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 84/CP NGÀY 17 THÁNG 12 NĂM 1996 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VIỆC THI HÀNH LUẬT DẦU KHÍ

 

CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Luật Dầu khi ngày 6 tháng 7 năm 1993;

NGHỊ ĐỊNH:

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.- Nghị định này quy định chi tiết việc thi hành Luật dầu khí được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua ngày 6 tháng 7 năm 1993.

Điều 2.- Nghị định này được áp dụng đối với các hoạt động tìm kiếm, thăm do dầu khí; phát triển mỏ dầu khí; khai thác dầu khí, kể cả xử lý, thu gom, tàng trữ, vận chuyển dầu khí trong khu vực khai thác cho tới điểm giao nhận và định đoạt dầu khí.

Điều 3.- Các tổ chức, cá nhân được Nhà nước Việt Nam khuyến khích tiến hành các hoạt động dầu khí bao gồm:

1. Doanh nghiệp Nhà nước.

2. Doanh nghiệp được thành lập theo Luật công ty.

3. Doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo Luật Doanh nghiệp tư nhân.

4. Hợp tác xã.

5. Tổ chức và cá nhân nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.

6. Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Điều 4.- Các từ ngữ đã định nghĩa tại Điều 3 Luật dầu khí được áp dụng trong Nghị định này. Ngoài ra, trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. "Công trình cố định" là công trình được xây dựng, lắp đặt cố định và sử dụng để phục vụ các hoạt động dầu khí.

2. "Diện tích hợp đồng" là diện tích được xác định trên cơ sở các lô tìm kiếm thăm dò theo thoả thuận trong hợp đồng dầu khí hoặc điện tích còn lại sau khi hoàn trả diện tích.

3. "Điểm giao nhận" là điểm được Tổng công ty dầu khí Việt Nam chấp thuận mà ở đó dầu thô hoặc khí thiên nhiên được chuyển giao từ tàu chứa dầu, hoặc từ những phương tiện tàng chứa khác để chuyển đến tầu, các phương tiện tiếp nhận dầu khác hoặc đấu ra đường ống dẫn dầu khí.

4. "Định đoạt dầu khí" là việc chuyển quyền sở hữu dầu khí, kể cả việc bán và trao đổi dầu khí.

5. "Hợp đồng giao dịch sòng phẳng" là hợp đồng giao dịch giữa người mua và người bán trong quan hệ thị trường thông thường, không bao gồm các hợp đồng mua bán giữa nội bộ của một công ty, giữa các Chính phủ, giữa các tổ chức thuộc Chính phủ, hoặc bất cứ giao dịch trao đổi nào bị ảnh hưởng bởi những quan hệ thương mại không bình thường.

6. "Khí đồng hành" là khí thiên nhiên được tách ra trong quá trình khai thác và xử lý dầu thô.

7. "Năm hợp đồng" là khoảng thời gian 12 tháng dương lịch kể từ ngày hợp đồng dầu khí có hiệu lực hoặc từ ngày tròn năm.

8. "Phát triển mỏ" là quá trình chuẩn bị và đầu tư xây dựng công trình, khoan, lắp đặt thiết bị để đưa mỏ vào khai thác dầu khí kể từ khi mỏ đó được tuyên bố phát hiện có giá trị thương mại.

9. "Sản lượng dầu khí thực" là sản lượng dầu khí khai thác và giữ được từ diện tích hợp đồng, được đo tại điểm giao nhận.

 

CHƯƠNG II

HOẠT ĐỘNG DẦU KHÍ

 

Điều 5.- Trước khi tiến hành các hoạt động tìm kiếm thăm dò, Nhà thầu phải lập đề án tổng thể, chi tiết và chương trình công tác năm, tương ứng theo từng giai đoạn phù hợp với các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng dầu khí về thời hạn, công việc, tài chính và gửi cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam để xem xét chấp thuận.

Nếu thay đổi đề án, hoặc chương trình công tác năm đã được chấp thuận phải được sự đồng ý của Tổng công ty dầu khí Việt Nam.

Thời hạn xem xét, chấp thuận không quá 90 ngày đối với đề án tổng thể và không quá 30 ngày đối với các đề án chi tiết và chương trình công tác năm kể từ khi nhận được hồ sơ.

 

Điều 6.- Trong trường hợp tự tiến hành các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí, Tổng Công ty dầu khí Việt Nam phải trình các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề án và chương trình công tác.

 

Điều 7.- Tổ chức, cá nhân khi tiến hành các hoạt động dầu khí, phải áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về an toàn, môi trường, kỹ thuật và công nghệ có liên quan.

Trong trường hợp chưa có tiêu chuẩn Việt Nam, tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí được áp dụng các tiêu chuẩn trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là một bên tham gia ký kết.

Việc áp dụng các tiêu chuẩn khác phải được phép của Bộ khoa học - Công nghệ và Môi trường.

 

Điều 8.- Tổ chức, cá nhân trước khi tiến hành các hoạt động dầu khí phải xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền các tài liệu sau đây:

- Báo cáo đánh giá tác động môi trường;

- Chương trình quản lý an toàn và đánh giá mức độ rủi ro kèm theo các biện pháp giảm thiểu tối đa.

- Kế hoạch ứng cứu khẩn cấp các sự cố bao gồm cả các biện pháp kỹ thuật và việc sử dụng các phương tiện, thiết bị, dụng cụ để khắc phục sự cố.

 

Điều 9.- Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải thực hiện các công việc có liên quan đến bảo vệ môi trường và an toàn sau đây:

1. Lập vùng an toàn cho các công trình dầu khí và máy móc thiết bị theo quy định tại Điều 12 Nghị định này.

2. Triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn theo chương trình quản lý an toàn đã được phê duyệt.

3. Thực hiện chương trình quan trắc các thay đổi về môi trường, thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường và các biện pháp để ngăn ngừa ô nhiễm và khắc phục hậu quả do sự cố ô nhiễm môi trường gây ra theo quy định của Luật bảo vệ môi trường.

4. Hạn chế tới mức thấp nhất những tác động làm ảnh hưởng hoặc đưa đến hậu quả xấu cho môi trường như ô nhiễm đất, nước, rừng, không khí, gây hại cho hệ thực vật và động vật, làm mất cân bằng sinh thái hoặc làm ảnh hưởng xấu tới môi trường dân sinh.

5. Cập nhật số liệu và hoàn thiện báo cáo đánh giá rủi ro, báo cáo việc thực hiện kế hoạch ứng cứu khẩn cấp.

6. Ghi chép đầy đủ các sự cố, tai nạn xảy ra.

7. Thông báo khẩn cấp và áp dụng ngay các biện pháp khắc phục trong trường hợp bị tai nạn hoặc sự cố.

8. áp dụng các biện pháp để bảo đảm an toàn lao động, điều kiện và môi trường lao động cho người lao động.

 

Điều 10.- Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về thiệt hại đối với người, tài sản và môi trường; kể cả việc làm sạch và khôi phục hiện trạng môi trường do tác hại trực tiếp hay gián tiếp của các hoạt động dầu khí như hiện tượng tràn dầu, thải bừa bãi các chất thải công nghiệp hoặc sinh hoạt.

Điều 11.- Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên dầu khí và đạt được sự thu hồi dầu khí tối đa phù hợp với thông lệ trong công nghiệp dầu khí quốc tế.

Điều 12.- Tuỳ thuộc vào điều kiện địa lý, xã hội của nơi tiến hành các hoạt động dầu khí, cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quy định quy mô của vùng an toàn xung quanh các công trình phục vụ tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí trên đất liền.

Khoảng cách vùng an toàn cho các công trình biển là 500m trở ra tính từ rìa ngoài cùng của các công trình hoặc từ vị trí thả neo đối với các phương tiện nổi, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt do cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quy định. Trong phạm vi hai hải lý tính từ rìa ngoài cùng của công trình, các phương tiện, tàu thuyền không được thả neo.

Trừ các trường hợp đặc biệt do cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quy định, người không có trách nhiệm không được phép xâm nhập và hoạt động trong vùng an toàn.

 

Điều 13.- Trong khi tiến hành khoan, Tổ chức, cá nhân phải thực hiện các quy định sau đây:

1. Khoan theo thiết kế hoặc thiết kế có thay đổi đã được duyệt.

2. Không được khoan ra ngoài diện tích hợp đồng dầu khí.

3. Lưu giữ toàn bộ tài liệu và mẫu vật thu được trong quá trình khoan và nộp cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam.

4. Thông báo kịp thời cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam các tài nguyên khác phát hiện được trong khi khoan.

Tổ chức, cá nhân tiến hành khoan còn phải tuân thủ các quy định khác trong các Quy chế hiện hành.

 

Điều 14.- Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác dầu khí phải tuân thủ các quy định trong Quy chế khai thác hiện hành, thực hiện đúng theo nội dung kế hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển mỏ dầu khí đã được chấp thuận; phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật và thiết bị tiên tiến nhằm thu hồi dầu khí tối đa nhưng không gây hại đến lòng đất, môi trường sinh thái và an toàn mỏ.

Các thiết bị đo phải bảo đảm tính hợp pháp và tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về đo lường.

Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác dầu khí phải có chương trình khảo sát giếng, lấy mẫu phân tích tính chất, thành phần dầu, khí, nước của từng đối tượng riêng biệt theo định kỳ; phải báo cáo phân tích khai thác dầu khí của từng giếng, của từng vỉa riêng biệt, của toàn mỏ và các chỉ tiêu khác theo định kỳ tháng, quý, năm cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam.

 

Điều 15.- Chính phủ Việt Nam có quyền sử dụng các thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động dầu khí, kể cả đường ống, kho chứa do tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí đang quản lý và sử dụng, với điều kiện không gây cản trở cho các hoạt động dầu khí.

 

Điều 16.- Nhà thầu phải lập chương trình, kế hoạch tháo dỡ các công trình cố định và trình Tổng công ty dầu khí Việt Nam phê duyệt. Chi phí cho việc tháo dỡ do Nhà thầu gánh chịu và được tính vào chi phí dầu khí được thu hồi.

Trong trường hợp tự tiến hành các hoạt động dầu khí, Tổng công ty dầu khí Việt Nam phải lập chương trình, kế hoạch tháo dỡ các công trình cố định trình cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền có thể yêu cầu tổ chức, cá nhân tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần các công trình cố định.

 

Điều 17.- Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khi phải mua bảo hiểm phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế trong công nghiệp dầu khí, đặc biệt là bảo hiểm các công trình phục vụ hoạt động dầu khí, bảo hiểm ô nhiễm môi trường, bảo hiểm tính mạng con người, bảo hiểm tài sản và trách nhiệm dân sự bên thứ ba.

Bảo hiểm được ưu tiên mua của các công ty bảo hiểm Việt Nam hoặc có thể mua của công ty bảo hiểm khác.

 

Điều 18.- Tổng công ty dầu khí Việt Nam phải nộp cho cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí những báo cáo chủ yếu sau đây:

1. Các phương án, kế hoạch hoạt động dầu khí dài hạn và hàng năm.

2. Tổng hợp về việc thực hiện và kết quả các hoạt động dầu khí hàng năm và hàng quý.

3. Chi tiết về các dự án kinh tế, kỹ thuật để tiến hành các hoạt động dầu khí.

4. Các sự kiện, sự cố quan trọng liên quan đến hoạt động dầu khí đã giải quyết hoặc cần giải quyết gấp.

5. Các báo cáo khác theo yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí.

Thời hạn và nội dung từng loại báo cáo do cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quy định.

 

Điều 19.- Nhà thầu phải cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, báo cáo về hoạt động dầu khí cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam.

Các cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu Nhà thầu cung cấp thông tin, báo cáo khi cần thiết, phù hợp với chức năng quản lý Nhà nước.

 

Điều 20.- Các báo cáo và thông tin phải được giữ bí mật theo quy định của pháp luật.

Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải lưu trữ tại Việt Nam các tài liệu gốc, mẫu vật và báo cáo; được phép xuất và tái nhập các tài liệu, mẫu vật đó theo các quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí và Tổng công ty dầu khí Việt Nam.

CHƯƠNG III

HỢP ĐỒNG DẦU KHÍ

Điều 21.- Hợp đồng mẫu quy định tại Điều 15 Luật dầu khí chỉ bao gồm những nội dung cơ bản. Tuỳ thuộc vào hình thức hợp đồng dầu khí và các điều kiện khác, các bên ký hợp đồng phải chi tiết hoá những điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng cũng như trách nhiệm của từng bên đối với Nhà nước Việt Nam phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam.

 

Điều 22.- Tổng công ty dầu khí Việt Nam và đối tác được lựa chọn hình thức hợp đồng theo quy định tại Điều 15 Luật dầu khí, kể cả hợp đồng khảo sát địa vật lý hoặc các hình thức khác.

Trong trường hợp hợp đồng dầu khí được ký kết dưới dạng hợp đồng liên doanh thì Xí nghiệp liên doanh được hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ như Nhà thầu.

Đối tượng của hợp đồng dầu khí có thể bao gồm toàn bộ các hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí hoặc chỉ bao gồm từng hoạt động riêng biệt.

 

Điều 23.- Tổng công ty dầu khí Việt Nam phải tổ chức đấu thầu theo thể thức đấu thầu quy định tại Điều 16 Luật dầu khí.

Trong trường hợp được Chính phủ Việt Nam cho phép, Tổng công ty dầu khí Việt Nam có thể ký kết các hợp đồng dầu khí theo hình thức lựa chọn hoặc đàm phán song phương.

 

Điều 24.- Trong thông báo gọi thầu, Tổng công ty dầu khí Việt Nam có trách nhiệm cung cấp các thông tin sau:

1. Nội dung đấu thầu.

2. Các điều kiện đấu thầu.

3. Lệ phí dự thầu.

4. Các chi tiết khác về thủ tục đấu thầu.

 

Điều 25.- Tổ chức, cá nhân muốn tham gia dự thầu phải gửi hồ sơ bao gồm: Đơn xin tham gia, chứng chỉ về tư cách pháp nhân, giải trình về khả năng tài chính, kỹ thuật và các cam kết dự thầu.

Trong trường hợp tổ chức và một tổ hợp hoặc liên doanh thì phải đệ trình chi tiết các mối quan hệ, trách nhiệm, tỷ lệ góp vốn hoặc cổ phần của từng thành viên.

 

Điều 26.- Tổ chức, cá nhân trúng thầu hoặc được lựa chọn làm đối tác sẽ được quyền ký kết hợp đồng dầu khí với Tổng công ty dầu khí Việt Nam.

Tổng công ty dầu khí Việt Nam có trách nhiệm thông báo cho tổ chức, cá nhân trúng thầu hoặc đối tác đã được chọn về thời gian và địa điểm ký kết hợp đồng dầu khí. Nếu tổ chức, cá nhân trúng thầu hoặc đối tác đã được chọn không đến ký hợp đồng dầu khí theo thời gian đã thông báo thì quyết định trúng thầu hoặc Quyết định lựa chọn đối tác có thể bị huỷ bỏ.

 

Điều 27.- Giai đoạn tìm kiếm thăm dò quy định tài Điều 17 Luật dầu khí có thể được chia thành các giai đoạn nhỏ. Thời hạn của các giai đoạn nhỏ do các bên ký kết hợp đồng dầu khí thoả thuận.

 

Điều 28.- Nhà thầu phải hoàn trả diện tích tìm kiếm thăm dò theo quy định sau đây:

1. Không ít hơn 20% diện tích hợp đồng ban đầu vào cuối mỗi giai đoạn nhỏ.

2. Toàn bộ diện tích hợp đồng còn lại sau khi kết thúc giai đoạn tìm kiếm thăm dò trừ các diện tích phát triển mỏ, khai thác dầu khí và diện tích đang thẩm lượng.

Nhà thầu có thể tự nguyện hoàn trả diện tích vào bất kỳ lúc nào trong giai đoạn tìm kiếm thăm dò. Các vùng đã hoàn trả tự nguyện được trừ khỏi nghĩa vụ hoàn trả diện tích. Tuy nhiên việc hoàn trả diện tích tự nguyện không làm giảm các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng dầu khí.

Diện tích hoàn trả phải tạo thành các dạng hình học đơn giản.

Các công trình cố định phải được tháo dỡ khỏi diện tích hoàn trả theo quy định tại Điều 16 Nghị định này.

 

Điều 29.- Nhà thầu và Tổng công ty dầu khí Việt Nam phải thoả thuận chương trình công việc trong giai đoạn tìm kiếm thăm do với các cam kết tối thiểu về khối lượng khảo sát địa vật lý, khối lượng giếng khoan, các nghiên cứu tổng hợp khác, các cam kết về đào tạo, tuyển dụng, chuyển giao công nghệ.

Ước tính chi phí cho cam kết công việc tối thiểu nói trên được coi là cam kết tài chính tối thiểu. Nhà thầu được coi là hoàn thành cam kết tài chính tối thiểu khi các cam kết công việc tối thiểu đã hoàn thành.

Trong trường hợp Nhà thầu xin chấm dứt hợp đồng, nhưng chưa hoàn thành các cam kết tối thiểu thì phải hoàn trả cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam một khoản tiền tương ứng với khối lượng công việc đã cam kết thực hiện nhưng chưa hoàn thành.

 

Điều 30.- Trong giai đoạn tìm kiếm thăm dò, nếu nhà thầu có kế hoạch tiến hành phát triển mỏ và khai thác dầu khí thì phải trình cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí phê duyệt theo các quy định của Luật dầu khí và Nghị định này.

 

Điều 31.- Sau khi phát hiện thấy dầu khí, Nhà thầu phải thông báo kịp thời và báo cáo các kết quả nghiên cứu, đánh giá và các tài liệu có liên quan cho cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền và Tổng công ty dầu khí Việt Nam.

Nhà thầu phải lập chương trình thẩm lượng mỏ và trình Tổng công ty dầu khí Việt Nam phê duyệt.

Nhà thầu phải thông báo kết quả thẩm lượng cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam. Nếu kết quả thẩm lượng cho thấy mỏ có giá trị thương mại, nhà thầu phải tuyên bố phát hiện thương mại.

Nhà thầu phải trình cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền và Tổng công ty dầu khí Việt Nam báo cáo trữ lượng, kế hoạch đại cương, kế hoạch phát triển mỏ.

Tổng công ty dầu khí Việt Nam và Nhà thầu phải thoả thuận trong hợp đồng dầu khí các điều khoản về căn cứ xác định mỏ thương mại, thời hạn trình chương trình thẩm lượng mỏ, kế hoạch đại cương và kế hoạch phát triển mỏ.

Dự án phát triển và khai thác mỏ chỉ được tiến hành sau khi cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Sau khi được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, nếu Nhà thầu không tiến hành phát triển mỏ và khai thác dầu khí trong thời hạn đã quy định trong văn bản phê duyệt thì cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền được quyền thu hồi mỏ.

 

Điều 32.- Trong giai đoạn khai thác dầu khí, Nhà thầu có thể sử dụng dầu khí sản xuất được của diện tích hợp đồng cho các hoạt động khai thác theo định mức tiêu hao công nghệ được Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường chấp thuận và phù hợp với thông lệ trong công nghiệp dầu khí quốc tế.

 

Điều 33.- Trong quá trình khai thác dầu khí, Nhà thầu phải nộp các báo cáo về sản lượng khai thác, thành phần, tỷ trọng dầu khí khai thác được của từng mỏ, từng đối tượng khai thác.

Báo cáo trên phải bao gồm cả thông tin về số lượng dầu khí sử dụng để phục vụ khai thác, số dầu khí hao hụt hoặc bị đốt bỏ.

 

Điều 34.- Nhà thầu có thể sử dụng khí đồng hành khai thác được trong diện tích hợp đồng làm nhiên liệu phục vụ cho hoạt động dầu khí tại mỏ, hoặc bơm trở lại mỏ.

Chính phủ Việt Nam có quyền sử dụng không phải trả tiền khí đồng hành mà Nhà thầu có ý định đốt nếu việc này không gây cản trở cho hoạt động của Nhà thầu. Trong trường hợp đó Nhà thầu phải tạo điều kiện để công việc trên được thực hiện thuận lợi.

Khí đồng hành chỉ được đốt bỏ khi được cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí cho phép.

 

Điều 35.- Trong trường hợp mỏ dầu khí vượt quá phạm vi của diện tích hợp đồng dầu khí thì Tổng công ty dầu khí Việt Nam và Nhà thầu lập dự án hợp tác để khai thác toàn bộ mỏ đó trình Chính phủ Việt Nam xem xét, phê duyệt.

 

Điều 36.- Trong trường hợp mỏ dầu khí của diện tích hợp đồng dầu khí kéo dài sang diện tích của các hợp đồng dầu khí khác thì các Nhà thầu, các Bên liên doanh phải thoả thuận để khai thác chung.

Mọi thoả thuận giữa các Nhà thầu, các Bên liên doanh về việc phát triển mỏ, khai thác chung phải được trình Chính phủ Việt Nam xem xét, phê duyệt.

Điều 37.- Tổng công ty dầu khí Việt Nam thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động dầu khí của Nhà thầu theo quy định trong hợp đồng dầu khí.

Các cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam thực hiện quyền kiểm tra, thanh tra, giám sát Tổng công ty dầu khí Việt Nam và Nhà thầu theo chức năng quản lý Nhà nước của mình.

CHƯƠNG IV

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG DẦU KHÍ

 

Điều 38.- Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí được quyền ký kết các hợp đồng mua vật tư thiết bị hoặc hợp đồng dịch vụ dầu khí với Nhà thầu phụ. Nhà thầu phụ được quyền ký kết các hợp đồng cung cấp vật tự, thiết bị và dịch vụ với các tổ chức, cá nhân khác.

Căn cứ vào năng lực của Nhà thầu phụ và các điều kiện cụ thể ghi trong hợp đồng ký kết giữa Nhà thầu và Nhà thầu phụ, Tổng công ty dầu khí Việt Nam có quyền chấp nhận hoặc từ chối các hợp đồng nói trên.

Nhà thầu và Nhà thầu phụ phải ưu tiên mua thiết bị, vật tư do Việt Nam chế tạo và cung cấp; ưu tiên ký kết hợp đồng dịch vụ, kể cả dịch vụ thăm dò địa chất, khoan, lặn, tầu thuyền và căn cứ trên bờ với các xí nghiệp tương ứng trong lãnh thổ Việt Nam trên nguyên tắc bảo đảm tính cạnh tranh về giá cả và chất lượng.

Điều 39.- Nhà thầu phải có Nội quy lao động, thang bảng lương, trả thưởng, phụ cấp và các chế độ khác đối với lao động người Việt Nam và người nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam có tính đến thông lệ được áp dụng trong công nghiệp dầu khí quốc tế; phải có biểu biên chế, kế hoạch tuyển dụng lao động và kế hoạch đào tạo hàng năm.

Các văn bản trên phải được Tổng công ty dầu khí Việt Nam xem xét trước khi đăng ký theo quy định của Bộ luật lao động.

Điều 40. Tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành hoạt động dầu khí phải sử dụng tối đa số lao động là người Việt Nam và chỉ tuyển dụng người nước ngoài làm những chức danh mà người Việt Nam chưa thể dảm nhận nhưng phải có kính phí, chương trình đào tạo để người Việt Nam sớm thay thế người nước ngoài.

Việc tuyển dụng lao động là người Việt Nam phải thông qua Tổ chức dịch vụ việc làm theo quy định tại Điều 18, Điều 132 Bộ luật lao động, Việc tuyển dụng lao động là người nước ngoài phải có giấy phép của Bộ lao động - Thương binh và xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 132 Bộ Luật lao động.

Tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành hoạt động dầu khí được trực tiếp tuyển chọn và ký kết hợp đồng lao động với người có giấy phép lao động. Đối với lao động kỹ thuật, quản lý thì phải thông qua Tổng công ty dầu khí Việt Nam.

Tổng công ty dầu khí Việt Nam có trách nhiệm là đầu mối quản lý số lao động là người Việt Nam làm việc cho Tổ chức, cá nhân nước ngoài, trong việc giám sát thực hiện các hợp đồng lao động đã ký kết.

 

Điều 41. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí được miễn thuế nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất đối với các thiết bị, vật tư cần thiết cho hoạt động dầu khí.

Nếu chuyển giao hoặc tiêu thụ các vật tư, thiết bị này tại Việt Nam không nhằm mục đích phục vụ các hoạt động dầu khí thì phải được phép của Bộ thương mại và phải nộp thuế nhập khẩu và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Nếu chuyển nhượng các vật tư, thiết bị này nhằm mục đích phục vụ các hoạt động dầu khí thì được miễn thuế nhập khẩu nhưng phải nộp các loại thuế khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Nếu chuyển giao quyền sở hữu các vật tư, thiết bị này cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam theo thoả thuận trong hợp đồng dầu khí thì Nhà thầu được miễn thuế nhập khẩu và các loại thuế khác. Tổng công ty dầu khí Việt Nam phải báo cáo Bộ Tài chính về việc nhận chuyển giao này để làm thủ tục nhận vốn bổ sung và nộp các loại thuế có liên quan đến chuyển quyền sở hữu tài sản.

Bộ thương mại, Bộ tài chính, Tổng cục Hải quan và Tổng công ty dầu khí Việt Nam phối hợp xác định danh mục các vật tư, thiết bị được miễn thuế nhập khẩu, thuế tạm nhập, tái xuất.

 

Điều 42.- Tổ chức, cá nhân nước ngoài ký kết các hợp đồng dịch vụ với Nhà thầu và Nhà thầu phụ được phép mở Văn phòng hoặc trụ sở điều hành tại nơi tiến hành các dịch vụ trên nguyên tắc tuân thủ các quy định của Việt Nam về việc xin phép đăng ký hoạt động, đăng ký cư trú, thuê lao động và thuê nhà làm trụ sở và thực hiện mọi nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam.

 

CHƯƠNG V

THUẾ TÀI NGUYÊN

 

Điều 43.- Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác dầu phải nộp thuế tài nguyên. Thuế tài nguyên đối với dầu thô được tính trên cơ sở luỹ tiến từng phần của tổng sản lượng dầu thô thực, khai thác trong mỗi ký nộp thuế dựa theo sản lượng dầu thô bình quân mỗi ngày khai thác được của toàn bộ diện tích hợp đồng dầu khí với thuế suất sau đây:

 

Sản lương khai thác Trên bờ và độ sâu Độ sâu trên

đến 200m nước 200m nước

 

- Dưới 50.000 thùng/ngày: 8% 6%

- Từ 50.001 đến 75.000 thùng/ngày: 10% 8%

- Từ 75.001 đến 100.000 thùng/ngày: 15% 10%

- Từ 100.001 đến 150.000 thùng/ngày: 20% 15%

- Trên 150.000 thùng/ngày: 25% 20%

 

Trong trường hợp đặc biệt, tuỳ thuộc các điều kiện địa lý, kinh tế kỹ thuật cụ thể của mỏ, thuế suất thuế tài nguyên đối với dầu thô có thể được tính cao hơn hoặc bằng một mức thuế cố định do Chính phủ Việt Nam quyết định.

 

Điều 44.- Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác khí thiên nhiên phải nộp thuế tài nguyên.

Thuế tài nguyên đối với khí thiên nhiên được tính trên cơ sở luỹ tiến tùng phần của tổng sản lượng khí thực, khai thác trong mỗi kỳ nộp thuế, dựa theo sản lượng khí bình quân mỗi ngày khai thác được của toàn bộ diện tích hợp đồng dầu khí với thuế suất sau đây:

 

Sản lượng khai thác Trên bờ và độ sâu Độ sâu trên

đến 200m nước 200m nước

 

- Dưới 5 triệu m3/ngày: 0% 0%

- Từ 5 đến 10 triệu m3/ngày: 5% 3%

- Trên 10 triệu m3/ngày: 10% 6%

 

Trong trường hợp đặc biệt, tuỳ thuộc vào các điều kiện địa lý, kinh tế kỹ thuật cụ thể của mỏ, thuế suất thuế tài nguyên đối với khí thiên nhiên có thể được ấn định bằng mức thuế cố định do Chính phủ Việt Nam quyết định.

 

Điều 45.- Trong trường hợp Tổng công ty dầu khí Việt Nam tiến hành khai thác dầu khí thì Tổng công ty dầu khí Việt Nam là người nộp thuế.

Trong trường hợp Nhà thầu tiến hành khai thác dầu khí thì Nhà thầu là người nộp thuế.

 

Điều 46.- Thuế tài nguyên được thu bằng dầu khí hoặc bằng tiền, hoặc một phần bằng tiền và một phần bằng dầu khí tuỳ theo sự lựa chọn của cơ quan thuế.

Cơ quan thuế phải thông báo cho Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác dầu khí trước 6 tháng về việc họ phải nộp thuế tài nguyên bằng tiền hay bằng dầu khí.

Nếu thuế tài nguyên được thu bằng tiền thì tiền nộp thuế là Đôla Mỹ hay bằng tiền tự do chuyển đổi khác được Bộ Tài chính chấp thuận. Trong trường hợp dầu khí được bán bằng đồng Việt Nam thì tiền nộp thuế tài nguyên là đồng Việt Nam.

 

Điều 47.- Giá tính thuế tài nguyên đối với dầu thô là giá FOB tại điểm giao nhận theo công bố giá của cơ quan được Chính phủ Việt Nam uỷ quyền trên cơ sở tham khảo giá quốc tế.

Trong trường hợp không có công bố giá thì giá tính thuế tài nguyên đối với dầu thô là giá trung bình nhân của dầu thô do người bán bán theo giá FOB tại điểm giao nhận theo hợp đồng mua bán sòng phẳng trong kỳ nộp thuế.

Trong trường hợp không có giá FOB bán theo hợp đồng sòng phẳng thì giá tính thuế tài nguyên đối với dầu thô được tính dựa trên giá FOB theo thị trường sòng phẳng trong thương mại quốc tế đối với loại dầu thô đó trong kỳ tính thuế có xét đến những giá bán của một tập hợp thích hợp ba loại dầu tương tự từ các nước Đông Nam á với những điều chỉnh thích đáng theo chất lượng, địa điểm và các yếu tố có liên quan khác.

Giá tính thuế tài nguyên đối với khí thiên nhiên là giá tại điểm giao nhận theo công bố giá của cơ quan được Chính phủ Việt Nam uỷ quyền trên cơ sở tham khảo giá quốc tế.

 

Điều 48.- Thuế tài nguyên được tạm nộp theo tháng dựa trên sản lượng khai thác dầu khí của tháng trước và được quyết toán theo từng Quý.

 

Điều 49.- Nếu thuế tài nguyên được thu bằng dầu khí thì địa điểm nộp thuế là điểm giao nhận.

Trong trường hợp cơ quan thuế yêu cầu nộp thuế tài nguyên tại địa điểm khác thì người nộp thuế được trừ vào phần thuế tài nguyên phải nộp chi phí vận tải và các chi phí trực tiếp khác phát sinh do thay đổi địa điểm.

 

CHƯƠNG V

THUẾ LỢI TỨC, CÁC LOẠI THUẾ KHÁC VÀ LỆ PHÍ

 

Điều 50.- Tổ chức, cá nhân tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí phải nộp thuế lợi tức theo quy định của Luật Dầu khí và Nghị định này.

Trong trường hợp Tổng công ty dầu khí Việt Nam tiến hành khai thác dầu khí thì Tổng công ty dầu khí Việt Nam là người nộp thuế.

Trong trường hợp nhà thầu tiến hành khai thác dầu khí thì nhà thầu là người nộp thuế.

 

Điều 51.- Việc xem xét giảm hoặc miễn thuế lợi tức theo quy định tại Điều 33 Luật dầu khí được thực hiện cho những đối tượng nộp thuế tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí trong điều kiện địa lý, kinh tế, kỹ thuật khó khăn.

 

Điều 52.- Căn cứ tính thuế lợi tức là tổng lợi tức chịu thuế trong kỳ nộp thuế và thuế suất đã quy định tại Điều 33 Luật Dầu khí.

Tổng lợi tức chịu thuế bằng tổng doanh thu trừ khi giá trị của dầu khí đã nộp thuế tài nguyên, tiền nộp các loại thuế, lệ phí ngoài thuế lợi tức, các khoản chi phí hợp lệ được phép thu hồi trong kỳ nộp thuế.

Điều 53.- Tổng doanh thu để tính lợi tức chịu thuế là toàn bộ giá trị của dầu khí đã bán hoặc định đoạt và tất cả các thu nhập khác có liên quan đến hoạt động dầu khí.

Giá átị của dầu khí đã bán là giá trị dầu khí được bán theo các hợp đồng sòng phẳng tính theo giá FOB thực hiện tại điểm giao nhận.

Đối với các trường hợp dầu khí không được bán theo hợp đồng sòng phẳng, hoặc toàn bộ dầu khí được phân chia giữa các bên bằng hiện vật thì giá trị của dầu khí đã bán, giá trị phần dầu khí đã nộp thuế tài nguyên, giá trị phần dầu khí thu hồi vốn, giá trị phần dầu khí lãi để tính thuế chuyển lợi nhuận về nước được tính bằng cách lấy khối lượng dầu khí tương ứng nhân với giá trị một đơn vị sản phẩm theo giá đã quy định tại Điều 47 Nghị định này.

 

Điều 54.- Các chi phí không được tính vào chi phí được thu hồi bao gồm:

1. Các chi phí phát sinh trước khi hợp đồng dầu khí có hiệu lực, trừ trường hợp đã được thoả thuận trong hợp đồng dầu khí hoặc được cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí chấp nhận.

2. Các loại hoa hồng dầu khí và các cam kết không thu hồi khác đã thoả thuận trong hợp đồng dầu khí.

3. Lãi vay đối với số tiền dầu tư cho tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí.

4. Tiền nộp phạt, bồi thường thiệt hại và các thiệt hại do lỗi của tổ chức, cá nhân đó gây ra.

5. Tiền nộp thuế lợi tức tại Việt Nam và ở nước ngoài.

6. Những thiệt hại đã được bảo hiểm đền bù.

7. Đóng góp tài trợ vì mục đích xã hội, từ thiện và các chi phí mang tính chất quà tặng.

8. Những chi phí không hợp lý, hợp lệ không thể chứng minh được do Tổng công ty dầu khí Việt Nam và các tổ chức Việt Nam có thẩm quyền phát hiện trong kiểm toán, quyết toán thuế và thanh tra.

 

Điều 55.- Thuế lợi tức được thu bằng tiền, đồng tiền nộp thuế là Đôla Mỹ hoặc bằng tiền tự do chuyển đổi được Bộ Tài chính chấp thuận. Trong trường hợp dầu khí được bán bằng đồng Việt Nam thì tiền nộp thuế lợi tức là đồng Việt Nam. Thuế lợi tức được tạm nộp hàng quý và quyết toán theo năm.

 

Điều 56.- Tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành các hoạt động dầu khí phải nộp các loại thuế, lệ phí và các khoản thu theo pháp luật Việt Nam trừ khi Luật dầu khí có quy định khác.

CHƯƠNG VI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG DẦU KHÍ

 

Điều 57.- Chính phủ Việt Nam thống nhất quản lý về hoạt động dầu khí. Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các hoạt động dầu khí.

Căn cứ vào chính sách phát triển công nghiệp dầu khí, cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí trình Chính phủ Việt Nam quyết định các vùng thuộc dự trữ quốc gia; các vùng do Tổng công ty dầu khí Việt Nam tự tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí; các vùng hợp tác với các Nhà thầu; các vùng cần khuyến khích đầu tư bằng các điều kiện ưu đãi.

Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí trình Chính phủ Việt Nam phương án hợp tác quốc tế về tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí.

Điều 58.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quyết định việc phân định, điều chỉnh giới hạn các lô tìm kiếm thăm dò dầu khí. Chính phủ Việt Nam quyết định các vấn đề về hợp tác tiến hành các hoạt động dầu khí tại các vùng chồng lấn với nước ngoài.

Điều 59.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí xem xét, trình Chính phủ Việt Nam chuẩn y hợp đồng dầu khí, cho phép chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của hợp đồng dầu khí ký kết giữa Tổng công ty dầu khí Việt Nam với các nhà thầu.

Đối với các hợp đồng dầu khí ký kết giữa Tổng công ty dầu khí Việt Nam với các Nhà thầu nước ngoài, Chính phủ Việt Nam giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Điều 60.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí trong phạm vi quyền hạn của mình ban hành các văn bản hướng dẫn, các quy trình quy phạm, quy chế kỹ thuật về tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí.

Điều 61.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí quyết định các vấn đề sau đây:

1. Kiểm tra, thanh tra các hoạt động dầu khí.

2. Trình Chính phủ Việt Nam các vấn đề về khuyến khích hoặc hạn chế xuất khẩu dầu khí.

3. Yêu cầu Nhà thầu bán một phần dầu khí cho Việt Nam sử dụng.

4. Các vấn đề quan trọng khác có liên quan đến hoạt động dầu khí.

 

Điều 62.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí phối hợp, hướng dẫn, kiểm tra các ngành và địa phương về các vấn đề có liên quan đến hoạt động dầu khí.

Điều 63.- Để bảo đảm cho việc tiến hành các hoạt động dầu khí, các Bộ, ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ trong việc cấp đất, sử dụng hợp lý các vùng nước, nhất là các vùng cần bảo đảm an ninh quốc gia, vùng nuôi trồng thuỷ sản hoặc vùng nghỉ mát, du lịch.

CHƯƠNG VII

THANH TRA CÁC HOẠT ĐỘNG DẦU KHÍ

 

Điều 64.- Thanh tra các hoạt động dầu khí là thanh tra chuyên ngành nhằm bảo đảm việc chấp hành Luật dầu khí và các văn bản pháp quy liên quan đến các hoạt động dầu khí. Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí tổ chức thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành dầu khí và ra quyết định thanh tra các hoạt động dầu khí.

Quyết định thanh tra bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

1. Thành phần đoàn thanh tra.

2. Đối tượng thanh tra.

3. Nội dung thanh tra.

4. Địa điểm thanh tra.

5. Thời hạn thanh tra.

6. Những yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí chịu sự thanh tra.

 

Điều 65.- Để thực hiện nhiệm vụ, đoàn thanh tra có các quyền hạn sau đây:

1. Được tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành thanh tra.

2. Mang theo phương tiện kỹ thuật cần thiết phục vụ cho hoạt động thanh tra.

3. Yêu cầu đối tượng chịu sự thanh tra cung cấp tài liệu cần thiết trong thời hạn nhất định.

Nếu quá thời hạn đó, yêu cầu của Đoàn thanh tra không được thực hiện thì Đoàn thanh tra ra quyết định về việc áp dụng các biện pháp cần thiết khác để thu thập tài liệu theo quy định của pháp luật Việt Nam.

4. Ra quyết định đình chỉ tạm thời đối với các hoạt động dầu khí có nguy cơ gây tai nạn, tổn thất nghiêm trọng cho người, tài sản và môi trường.

Thời hạn đình chỉ tạm thời không được vượt quá 15 ngày. Trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm ra quyết định, đoàn thành tra phải thông báo quyết định của mình cho cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền và đề nghị biện pháp xử lý. Trong thời hạn 15 ngày, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phải ra quyết định xử lý.

5. Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra các đơn vị hoạt động dầu khí có vốn đầu tư nước ngoài.

6. Kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về dầu khí.

 

Điều 66.- Quyết định của đoàn thanh tra được thông báo cho đối tượng chịu sự thanh tra, trong đó ghi rõ các kết luận và kiến nghị của đoàn thanh tra.

Nếu đối tượng chịu sự thanh tra không đồng ý với quyết định của Đoàn thanh tra thì trong thời hạn 15 ngày, đối tượng chịu sự thanh tra đó được quyền khiếu nại lên cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phải trả lời về việc giải quyết khiếu nại đó.

Trong khi chờ kết quả giải quyết khiếu nại, đối tượng chịu sự thanh tra phải chấp hành quyết định của đoàn thanh tra.

 

Điều 67.- Nếu quyết định của đoàn thanh tra không được đối tượng chịu sự thanh tra tự nguyện thi hành thì được giải quyết bằng các biện pháp cưỡng chế hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt hành chính.

Điều 68.- Khi tiến hành thanh tra, đoàn thanh tra phải tuân thủ các quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

CHƯƠNG VIII

XỬ LÝ VI PHẠM

 

Điều 69.- Mức phạt đối với các vi phạm quy định tại Điều 43 Luật dầu khí được chi tiết như sau:

1. Tiến hành các hoạt động dầu khí trái phép thì bị phạt tới 100.000 đôla Mỹ hoặc tương đương.

2. Không tuân thủ các Quy chế quy định tại Điều 60 Nghị định này, gây thiệt hại cho tài nguyên dầu khí hoặc môi trường, hoặc làm thiệt hại tài sản Nhà nước, cá nhân thì ngoài việc phải bồi thường thiệt hại còn bị phạt tới 100.000 đôla Mỹ hoặc tương đương.

3. Tiến hành các hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí vượt quá phạm vi diện tích hợp đồng khi chưa được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cho phép thì bị phạt tới 50.000 đôla Mỹ.

4. Khai man, trốn thuế tài nguyên, thuế lợi tức và các loại thuế khác thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế nộp thiếu, còn phải nộp tiền phạt về khai man, trốn thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam.

5. Không thông báo cho cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí và Tổng công ty dầu khí Việt Nam những khoáng sản khác ngoài dầu khí hoặc cổ vật, tài sản có giá trị được phát hiện trong diện tích hợp đồng dầu khí thì bị phạt tới 10.000 đôla Mỹ hoặc tương đương và bị tịch thu các cổ vật, tài sản đó.

6. Ngăn cản các hoạt động thanh tra thì bị phạt tới 10.000 đôla Mỹ hoặc tương đương.

Ngoài những quy định về mức phạt trên đây, tổ chức, cá nhân có các vi phạm hành chính khác sẽ bị xử lý theo quy định của Pháp lệnh Xử phạt hành chính.

 

Điều 70.- Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí ra quyết định về việc xử lý các vi phạm và mức phạt quy định tại Điều 69 Nghị định này.

 

Điều 71.- Thẩm quyền xử lý các vi phạm trên đây được quy định như sau:

1. Cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí xử lý các vi phạm và định mức phạt tiền quy định tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5 Điều 69 Nghị định này.

2. Trưởng đoàn thanh tra xử lý vi phạm và định mức phạt tiền quy định tại điểm 6 Điều 69 Nghị định này.

 

CHƯƠNG IX

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Điều 72.- Hiệp định thành lập Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsovpetro và các hợp đồng dầu khí đã ký kết trước khi ban hành Luật dầu khí và Nghị định này được tiếp tục thực hiện các quyền lợi kinh tế về thuế suất, cơ chế nộp thuế, tỷ lệ chia dầu khí lãi, tỷ lệ dầu khí thu hồi chi phí đã cam kết trong Hiệp định và các hợp đồng dầu khí này.

 

Điều 73.- Các cơ quan quản lý Nhà nước, trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.

 

Điều 74.- Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Mọi quy định liên quan đến hoạt động dầu khí trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.

 

Điều 75.- Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tổng công ty dầu khí Việt Nam và các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE GOVERNMENT
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
------------
No. 84-CP
Hanoi , December 17, 1996

 
DECREE
DETAILING THE IMPLEMENTATION OF THE PETROLEUM LAW
THE GOVERNMENT
Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
Pursuant to the Petroleum Law of July 6, 1993,
DECREES:
Chapter I
GENERAL PROVISIONS
Article 1.- This Decree provides details for the implementation of the Petroleum Law passed by the IXth National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam on July 6, 1993.
Article 2.- This Decree shall apply to activities of prospecting and exploring oil and gas; developing oil and gas fields; exploiting oil and gas, including processing, gathering, storing and transporting oil and gas from the exploitation area to the place of oil and gas delivery and disposal.
Article 3.- The organizations and individuals encouraged by the State of Vietnam to conduct oil and gas activities include:
1. State enterprises.
2. Enterprises established under the Corporate Law.
3. Private enterprises established under the Law on Private Enterprises.
4. Cooperatives.
5. Foreign organizations and individuals directly investing in Vietnam.
6. Foreign-invested enterprises.
Article 4.- The terms defined in Article 3 of the Petroleum Law shall apply in this Decree. Besides, the following terms shall be construed as follows:
1. "Fixed works" are works constructed and installed firmly for use in service of oil and gas activities.
2. "Contractual area" is the area defined on the basis of lots to be prospected and explored as agreed in the petroleum contract or the remaining area after the contract expires.
3. "Place of delivery" is the place accepted by the Vietnam Oil and Gas Corporation where crude oil or natural gas shall be delivered from oil containers or other containing means into vessels and other oil receiving means or to oil and gas pipelines.
4. "Disposal of oil and gas" is the transfer of the ownership right over oil and gas, including the sale and exchange of oil and gas.
5. "Fair transaction contract" is a transaction contract between the buyer and the seller in the common market relationship, excluding purchase and sale contracts within a company, between governments, between governmental organizations or any type of transaction or exchange affected by irregular commercial relations.
6. "Associated gas" is the natural gas separated during the exploitation and processing of crude oil.
7. "Contractual year" is a period of 12 solar months counting from the date when the petroleum contract takes effect or from the completion of a full year.
8. "Development of oil and gas fields" is the process of preparing for and investing in project construction, drilling and installing equipment for the exploitation of oil and gas fields since such fields are declared to have commercial value.
9. "Net oil and gas output" is the remaining output of the oil and gas exploited from the contractual area and measured at the place of delivery.
Chapter II
OIL AND GAS ACTIVITIES
Article 5.- Before conducting prospection and exploitation activities, the Contractor shall have to draw up master and detailed projects and the annual working program, corresponding to each period and complying with the terms agreed upon in the petroleum contract on the time limit, work load and finance, and send them to the Vietnam Oil and Gas Corporation for consideration and approval.
If the approved plan or annual working program is changed, there must be consent from the Vietnam Oil and Gas Corporation.
The time limit for consideration and approval shall not exceed 90 days for the master plan, and 30 days for the detailed plan and the annual working program counting from the date of receipt of the dossier.
Article 6.- In cases where the Vietnam Oil and Gas Corporation conducts the prospection, exploration and development of oil and gas fields and exploitation of oil and gas by itself, it shall have to submit the plans and working program to the competent State management agency for ratification.
Article 7.- Organizations and/or individuals conducting oil and gas activities shall apply the Vietnamese criteria on safety, environment, techniques and technologies.
In cases where such criteria of Vietnam are not available, organizations and/or individuals conducting oil and gas activities shall be entitled to apply criteria defined in the international treaties which Vietnam has signed or acceded to.
The application of other criteria must be permitted by the Ministry of Science, Technology and Environment.
Article 8.- Before conducting oil and gas activities, an organization and/or an individual shall have to work out and submit to the competent agency the following documents:
- A report on the evaluation of environmental impacts;
- A program on safety management and risk evaluation together with measures to minimize the risk.
- A plan for contingencies and accidents, including technical measures and the use of facilities, equipment and tools to overcome such incidents.
Article 9.- Organizations and/or individuals conducting oil and gas activities shall have to perform the following tasks regarding the protection of environment and safety:
1. To set up a safety zone for oil and gas projects, machinery and equipment in accordance with the provisions of Article 12 of this Decree.
2. To take measures to ensure safety in accordance with the ratified safety management program.
3. To carry out program on the observation of environmental changes, the environment protection plan and measures to prevent pollution and overcome consequences of environmental pollution in accordance with the provisions of the Law on Environmental Protection.
4. To minimize the impacts that adversely affect or cause bad consequences for the environment, such as the pollution of land, water, forests and air or harm the floral and fauna or cause ecological imbalance or badly affect the people�s living environment.
5. To update data and complete reports on the evaluation of risks as well as the implementation of the plan for emergency cases.
6. To record all incidents and accidents.
7. To issue emergency notices and immediately apply measures to overcome consequences of such incidents or accidents.
8. To apply measures to ensure labor safety, working conditions and safe environment for laborers.
Article 10.- An organizations and/or individual conducting oil and gas activities shall take responsibility before law for the damage caused to the population, properties and the environment, including the purification and restoration of the original status of the environment directly or indirectly affected by oil and gas activities such as oil spillover, wanton discharge of industrial or daily life wastes.
Article 11.- An organization and/or individual conducting oil and gas activities shall have to preserve natural resources, oil and gas resources and achieve the maximum recovery of oil and gas in accordance with international practice in the oil and gas industry.
Article 12.- Depending on the geographical and social conditions of the place where oil and gas activities are conducted, the oil and gas State management agency shall determine the sizes of the safety zones surrounding the works in service of inland oil and gas prospection and exploration.
The distance of the safety zone for a sea construction shall be 500 m from the outermost margin of the construction outwards or from the anchorage of other floating means, except for special cases specified by the oil and gas State management agency. Within two nautical miles from the outermost margin of the construction, means and vessels are not allowed to anchor.
Except for special cases specified by the oil and gas State management agency, nobody without related responsibility shall be allowed to enter and operate in the safety zone.
Article 13.- When conducting a drilling, an organization and/or individual shall have to observe the following provisions:
1. Drilling must comply with the design or the amended design which has been approved.
2. Refraining from drilling outside the petroleum contractual area.
3. Keeping all documents and specimen collected in the process of drilling and submit them to the Vietnam Oil and Gas Corporation.
4. Promptly informing the Vietnam Oil and Gas Corporation of other resources discovered in the process of drilling.
The organization and/or individual that conducts drilling activities shall also have to comply with other stipulations of the current Regulations.
Article 14.- An organizations and/or individual conducting oil and gas exploitation shall have to abide by the stipulations of the Exploitation Regulation currently in force and strictly comply with the contents of the approved overall plans and plans for the development of oil and gas fields; apply technical measures and use advanced equipment to recover oil and gas at the maximum level but must not harm the earth�s substrata, ecological environment and the safety of the field.
The measuring equipment must be lawful and up to the standards specified by the measurement State management agency.
An organizations and/or individual conducting oil and gas exploitation shall have a survey program for the well or wells and periodically take specimen for the analysis of characteristics and composition of oil, gas and water of each specific object; to make monthly, quarterly and annual reports on the analysis of the oil and gas exploitation from each well, each separate seam as well as the whole field and on other norms to the Vietnam Oil and Gas Corporation.
Article 15.- The Vietnamese Government shall have the right to use equipment and tools in service of oil and gas activities, including pipelines and stores which are managed and used by an organization and/or individual conducting oil and gas activities, but must not obstruct oil and gas activities.
Article 16.- The Contractor shall have to work out programs and plans for the dismantlement of immovable works and submit them to the Vietnam Oil and Gas Corporation for approval. All costs for the dismantlement shall be borne by the Contractor and shall be accounted for in the costs for the recovery of oil and gas.
In cases where the Vietnam Oil and Gas Corporation conducts oil and gas activities by itself, it shall have to work out programs and plans for the dismantlement of the immovable works and submit them to the State management agency for approval.
The competent State management agency may request the concerned organization and/or individual to dismantle the whole or part of the immovable works.
Article 17.- An organization and/or individual conducting oil and gas activities shall have to buy insurance in accordance with the provisions of Vietnamese law and international practice regarding the oil and gas industry, especially the insurance for works in service of oil and gas activities, environmental pollution, life, properties and civil liability of the third party.
Priority shall be given to the purchase of insurance of Vietnamese insurance companies but insurance can also be bought from other insurance companies.
Article 18.- The Vietnam Oil and Gas Corporation shall have to submit to the oil and gas State management agency the following major reports on:
1. Projects and long-term and annual plans on oil and gas activities.
2. Annual and quarterly sum-ups of the implementation of such projects and plans and results of oil and gas activities.
3. Details of the economic and technical projects for oil and gas activities.
4. Important events and incidents relating to oil and gas activities which have been addressed or need to be addressed immediately.
5. Other reports as requested by the oil and gas State management agency.
The time limit and contents of each kind of report shall be specified by the oil and gas State management agency.
Article 19.- The Contractor shall have to provide full information, data and reports on oil and gas activities to the Vietnam Oil and Gas Corporation.
The competent agencies may request the Contractor to provide information and reports when necessary and in accordance with their State management functions.
Article 20.- All reports and information must be kept secret in accordance with the provisions of law.
An organization and/or individual conducting oil and gas activities shall have to record original documents, specimen and reports in Vietnam; be allowed to export and re-import those documents and specimen in accordance with the regulations of the oil and gas State management agency and the Vietnam Oil and Gas Corporation.
Chapter III
PETROLEUM CONTRACT
Article 21.- The model contract described in Article 15 of the Petroleum Law includes only basic contents. Depending on the form of petroleum contract and other conditions, the signatories to the contract shall work out concrete provisions on the rights and obligations of the parties to the contract as well as responsibilities of each party before the State of Vietnam in conformity with the provisions of Vietnamese law.
Article 22.- The Vietnam Oil and Gas Corporation and its partner(s) shall be entitled to choose a suitable form of contract in accordance with the provisions of Article 15 of the Petroleum Law, including the contract on geophysical survey or other forms.
In cases where the petroleum contract is signed in the form of a joint venture contract, the joint venture enterprise shall be entitled to the same rights and interests and subject to the same obligations as the Contractor.
The contents of a petroleum contract may include all activities relating to the prospection, exploration and development of oil and gas fields and exploitation of oil and gas or only one or several specific activities.
Article 23.- The Vietnam Oil and Gas Corporation shall have to organize biddings in accordance with the bidding procedures provided for in Article 16 of the Petroleum Law.
With permission from the Vietnamese Government, the Vietnam Oil and Gas Corporation may sign petroleum contracts under a selected form or according to a bilateral agreement.
Article 24.- In the bidding notice, the Vietnam Oil and Gas Corporation shall have to supply the following information:
1. Contents of the bid.
2. Bidding conditions.
3. Bidding fee.
4. Other details on the bidding procedures.
Article 25.- An organization and/or individual wishing to join a bid shall have to submit a dossier, including: an application, a certificate of their legal person status, reports on financial and technical capabilities and bidding commitments.
In cases where an organization is a consortium or joint venture, it must submit a detailed report on the relations, responsibilities, capital contributions or shares of its members.
Article 26.- The organization and/or individual that wins the bid or is selected to be a partner shall be entitled to sign a petroleum contract with the Vietnam Oil and Gas Corporation.
The Vietnam Oil and Gas Corporation shall have the responsibility to inform the organization and/or individual that won the bid or the selected partner(s) of the time and place for the signing of the petroleum contract. If the organization and/or individual that won the bid or the selected partner(s) fail to come for signing the petroleum contract on schedule, the decision on the bid winning or the decision on the selection of partner(s) may be canceled.
Article 27.- The prospection and exploration period stipulated in Article 17 of the Petroleum Law may be phased out. The duration of each phase shall be agreed upon by the signatories to the petroleum contract.
Article 28.- The contractor shall have to return the prospected and explored area in accordance with the following provisions:
1. No less than 20% of the initial contractual area at the end of each phase.
2. All the remaining contractual area after the completion of the prospection and exploration period, excluding the areas reserved for the development of oil and gas fields, exploitation of oil and gas and areas which are being assessed.
The contractor may of his own free will return the area at any time in the prospection and exploration period. The areas which have been returned voluntarily shall be deducted from those to be obligatorily returned. However, the voluntary return of areas shall not reduce the contractor�s obligations written in the petroleum contract.
The returned areas must form simple geometrical figures.
Fixed works must be dismantled from the returned areas in accordance with provisions of Article 16 of this Decree.
Article 29.- The contractor and the Vietnam Oil and Gas Corporation shall have to reach an agreement on a working program for the prospection and exploration period with minimum commitments on the amount of geophysical survey, the volume of wells, other general studies as well as commitments on training, recruitment and transfer of technologies.
The estimated cost for the fulfillment of the minimum work mentioned above shall be considered the minimum financial commitment. The contractor shall be considered having completed the minimum financial commitment only when the minimum work commitments have been fulfilled.
In cases where the contractor requests for the termination of the contract before the minimum commitments are fulfilled, he/she shall have to pay the Vietnam Oil and Gas Corporation a sum of money corresponding to the workload pledged but not yet done.
Article 30.- During the prospection and exploration period, if the contractor plans to develop oil and gas fields and exploit oil and gas, he/she shall have to submit such plan to the oil and gas State management agency for approval in accordance with the provisions of the Petroleum Law and this Decree.
Article 31.- When discovering oil and gas, the contractor shall have to promptly inform and report the result of research, evaluation and related documents to the competent State management agency and the Vietnam Oil and Gas Corporation.
The contractor shall have to work out a program on the evaluation of oil and gas fields and submit it to the Vietnam Oil and Gas Corporation for ratification.
The contractor shall have to inform the assessment results to the Vietnam Oil and Gas Corporation. If the assessment results show that the fields have commercial value, the Contractor shall have to announce such commercial discovery.
The Contractor shall have to submit to the competent State management agency and the Vietnam Oil and Gas Corporation a report on oil and gas reserves, the general plan and plan for the development of oil and gas fields.
The Vietnam Oil and Gas Corporation and the Contractor shall have to reach an agreement in the petroleum contract on the terms regarding the basis for determining commercial oil and gas fields, the time limit for the submission of the field assessment program, the general plan and plan for development of the oil and gas field.
The project on the development and exploitation of the oil and gas field shall be carried out only when it has been ratified by the competent State management agency.
After the project has been ratified by the competent State management agency, if the Contractor fails to deploy work at the oil and gas field and to exploit oil and gas on schedule as specified in the approved document, the competent State management agency shall have the right to recover the field.
Article 32.- During the oil and gas exploitation period, the contractor is entitled to use the oil and gas produced from the contractual area for the exploitation activities according to the norms of technological waste accepted by the Ministry of Science, Technology and Environment and in accordance with international practice in the oil and gas industry.
Article 33.- In the process of oil and gas exploitation, the Contractor is required to submit reports on the exploitation output, composition and density of the exploited oil and gas of each field and each object of the exploitation.
Such reports must include information on the volume of oil and gas used for the exploitation as well as the volume of the lost or burnt oil and gas.
Article 34.- The Contractor may use associated gas exploited from the contractual area as fuel to serve oil and gas activities at the field or to pump it back to the field.
The Vietnamese Government shall be entitled to use without payment the associated gas which the Contractor intends to burn provided that this does not obstruct the Contractor�s activities. In that case, the Contractor shall have to create favorable conditions for the smooth operation.
The associated gas shall be burnt only when it is so permitted by the oil and gas State management agency.
Article 35.- In cases where the area of an oil and gas field exceeds the area provided for in the petroleum contract, the Vietnam Oil and Gas Corporation and the Contractor shall have to draw a plan for cooperation to tap the entire field, which shall be submitted to the Vietnamese Government for consideration and approval.
Article 36.- In cases where the oil and gas field in the contractual area stretches to and overlaps the area covered by another petroleum contract, the contractors and joint venture partners shall have to reach agreement for joint exploitation.
All commitments between the contractors and joint venture partners on the development of oil and gas fields and the joint exploitation shall have to be submitted to the Vietnamese Government for consideration and approval.
Article 37.- The Vietnam Oil and Gas Corporation shall conduct the inspection and supervision over oil and gas activities of the Contractor according to the provisions of the petroleum contract.
Managing agencies of the State of Vietnam shall within their managerial functions exercise the right to inspect, examine and supervise the Vietnam Oil and Gas Corporation and the Contractors.
Chapter IV
RIGHTS AND OBLIGATIONS OF ORGANIZATIONS AND INDIVIDUALS CONDUCTING OIL AND GAS ACTIVITIES
Article 38.- An organization and/or individual conducting oil and gas activities shall be entitled to sign contracts for the purchase of materials and equipment or oil and gas service contracts with the Sub-contractor(s). The Sub-contractor(s) shall be entitled to sign contracts on the supply of materials and equipment and services with other organizations and/or individuals.
Basing itself on the capability of sub-contractor(s) and the concrete conditions of the contract(s) signed between the contractor and the sub-contractor(s), the Vietnam Oil and Gas Corporation shall reserve for itself the right to accept or reject those contracts.
The contractor and sub-contractor(s) shall have to give priority to the purchase of materials and equipment manufactured or supplied by Vietnam; as well as to the signing of service contracts, including services for geological surveys, drilling, diving, hiring of vessels and land bases with enterprises of corresponding fields on Vietnamese territory on the principle of ensuring the competitiveness of the price and quality.
Article 39.- The Contractor shall have to elaborate labor regulations, salary scale, bonuses and allowances and other regimes regarding Vietnamese and foreign laborers in accordance with the provisions of Vietnamese law and international practice in the oil and gas industry; they shall also have to draw up annual personnel employment, labor recruitment and training plans.
The said-above documents must be examined by the Vietnam Oil and Gas Corporation before the registration in accordance with the provisions of the Labor Code.
Article 40.- A foreign organization and/or individual conducting oil and gas activities shall have to use as much Vietnamese labor as possible and shall be entitled to employ foreigners only at the posts which Vietnamese are not yet able to assume provided that they have funds and programs to train Vietnamese people for early replacement of foreigners.
The recruitment of Vietnamese laborers must be conducted through employment service organizations as prescribed in Articles 18 and 132 of the Labor Code. The recruitment of foreign laborers must be permitted by the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs in accordance with the stipulations of Item 1, Article 132 of the Labor Code.
A foreign organization and/or individual conducting oil and gas activities shall be entitled to directly recruit and sign labor contracts with laborers who have work permits. With regard to technicians and managers, the recruitment must be adopted by the Vietnam Oil and Gas Corporation.
The Vietnam Oil and Gas Corporation shall assume the main responsibility in managing the number of Vietnamese laborers working for foreign organizations and/or individuals and in supervising the implementation of the signed labor contracts.
Article 41.- Organizations and/or individuals conducting oil and gas activities shall be exempt from import tax, temporary import and re-export taxes imposed on equipment and materials needed for oil and gas activities.
In cases where such materials and equipment are transferred or sold in Vietnam not for the purpose of servicing oil and gas activities, permission from the Ministry of Trade must be obtained and import and other taxes must be paid as prescribed by the Vietnamese law.
In cases where the assignment of such materials and equipment is aimed at servicing oil and gas activities, they shall be exempt from import tax but must pay other taxes as prescribed by the Vietnamese law.
A contractor that transfers the ownership of such materials and equipment to the Vietnam Oil and Gas Corporation under the agreements in the petroleum contract, shall be exempt from import tax and other taxes. The Vietnam Oil and Gas Corporation shall have to report to the Ministry of Finance such transfer so as to complete procedures for receiving additional capital and paying taxes relating to the transfer of the property ownership.
The Ministry of Trade, The Ministry of Finance, the General Department of Customs and the Vietnam Oil and Gas Corporation shall coordinate with each other in determining a list of materials and equipment to be exempt from import tax, temporary import tax and re-export tax.
Article 42.- Foreign organizations and/or individuals that sign service contracts with Contractor(s) and sub-contractor(s) shall be entitled to open offices or headquarters at the places of providing services on the principle of observing the regulations of Vietnam on operation registration, residence registration, labor hire and house renting for offices and fulfilling all obligations prescribed by the Vietnamese law.
Chapter V
NATURAL RESOURCES TAX
Article 43.- An organization and/or individual exploiting oil shall have to pay natural resources tax. The natural resources tax for crude oil shall be calculated on a partial progressive basis from the net crude oil output exploited in each tax payment period, depending on the average daily output of crude oil exploited in the whole contractual area at the following tax rates:
Exploited Inland and At a depth
output at a depth of of more up to 200m than 200m
- Below 50,000
barrels/day: 8% 6%
- From 50,001
to 75,000 barrels/day: 10% 8%
- From 75,001
to 100,000 barrels/day: 15% 10%
- From 100,001
to 150,000 barrels/day: 20% 15%
- Over 150,000
barrels/day: 25% 0%
In special cases, depending on geographical, economic and technical conditions of the field, the natural resources tax rates for crude oil may be higher or equivalent to a fixed tax rate decided by the Vietnamese Government.
Article 44.- An organization and/or individual exploiting natural gas shall have to pay natural resources tax.
The natural resources tax imposed on natural gas shall be calculated on a partial progressive basis from the total net output exploited in each tax payment period, depending on the average daily output of gas exploited in the whole contractual area at the following tax rates:
Exploited Inland and At a depth
output at a depth of of more up to 200m than 200m
- Below 5 million m3/day: 0% 0%
- From 5 to 10 million m3/day: 5% 3%
- Over 10 million m3/day: 10% 6%
In special cases, depending on specific geographical, economic and technical conditions of the field, the natural resource tax rate for natural gas may be equivalent to a fixed tax rate decided by the Vietnamese Government.
Article 45.- If the Vietnam Oil and Gas Corporation conducts oil and gas activities by itself, it shall be the tax payer.
If the contractor conducts oil and gas activities by itself, such contractor shall be the tax payer.
Article 46.- The natural resources tax may be paid in oil or gas or money or partly in money and partly in oil or gas as may be determined by the tax agency.
The tax agency shall have to inform the organization and/or individual conducting oil and gas activities of their tax payment in oil or gas or money 6 months in advance.
If the natural resources tax is collected in money, the pecuniary tax payment shall be made in US dollar or any other convertible currencies accepted by the Ministry of Finance. In cases where oil and gas are sold in Vietnamese Dong, the natural resources tax shall be paid in Vietnamese Dong.
Article 47.- The price for calculating natural resources tax on crude oil shall be the FOB price at the place of delivery, according to the price announced by the agency mandated by the Vietnamese Government after consulting international prices.
In cases where the price announcement is not available, the price for calculating natural resources tax for crude oil shall be the geometric mean of the FOB prices of crude oil sold at the place of delivery in accordance with the fair buy-and-sell contract in the tax payment period.
In cases where there is no FOB price in the fair transaction contract, the price for calculating natural resources tax on crude oil shall be based on the FOB price in the fair market of international trade applied to that type of crude oil in the tax payment period, taking into account the selling price of a suitable combination of 3 similar types of oil from South-East Asian countries with reasonable readjustments according to the quality, place and other related factors.
The price for calculating natural resources tax on natural gas shall be the price at the place of delivery according to the price announcement issued by the agency mandated by the Vietnamese Government with account taken of international prices.
Article 48.- The natural resources tax shall be temporarily paid monthly on the basis of the oil and gas output of the previous month and shall be paid every quarter.
Article 49.- If the natural resources tax is paid in oil or gas, the place of tax payment shall be the place of delivery.
In cases where the tax agency requests the tax payment at other places, the tax payer shall be entitled to deduct from the to-be-paid tax amount the transportation and other direct costs arising from the change of places.
Chapter VI
PROFIT TAX, OTHER TAXES AND FEES
Article 50.- Organizations and/or individuals conducting oil and gas activities shall have to pay profit tax in accordance with the provisions of the Petroleum Law and this Decree.
If the Vietnam Oil and Gas Corporation conducts oil and gas activities by itself, it shall be the tax payer.
If oil and gas activities are conducted by the contractor, such contractor shall be the tax payer.
Article 51.- The profit tax payer conducting oil and gas prospection, exploration and exploitation under difficult geographical, economic and technical conditions shall be considered for profit tax reduction or exemption in accordance with the stipulations of Article 33 of the Petroleum Law.
Article 52.- The basis for the profit tax calculation shall be the total taxable interest in the tax payment period and the tax rates stipulated in Article 33 of the Petroleum Law.
The total taxable interest is the difference between the total income and the value of oil and gas after the payment of natural resources tax, other taxes and fees outside the profit tax and other regular expenditures allowed to be retrieved in the tax payment period.
Article 53.- The total income subject to the calculation of the taxable interest is the total value of the already sold or disposed oil and gas and all other incomes related to oil and gas activities.
The value of the sold oil and gas is the value of oil and gas sold under fair contracts at the FOB price at the place of delivery.
In cases where oil and gas are not sold under a fair contract or the total oil and gas amount are divided among the parties in kind, the value of the sold oil and gas, the value of the after-tax oil and gas, the value of oil and gas for capital recovery and the value of oil and gas profit subject to the tax on profit remittance to home countries shall be calculated by multiplying the corresponding amount of oil and gas by the price of a unit of product in accordance with the price bracket provided for in Article 47 of this Decree.
Article 54.- Expenses not allowed to be included in the to-be retrieved expenditures:
1. The expenses arising before the petroleum contract takes effect, except in cases already agreed upon in the petroleum contract or accepted by the oil and gas State management agency.
2. Different types of oil and gas commission and commitments on non-retrieval of expenditures agreed upon in the petroleum contract.
3. The interest of the borrowed capital for investment in oil and gas prospection, exploration and exploitation.
4. Fines, damage compensations and losses caused by those organizations and/or individuals themselves.
5. Profit tax payment in Vietnam and abroad.
6. Damage already compensated for by the insurance service.
7. Donations for social and charity purposes and expenses on gifts.
8. The unreasonable, inappropriate expenses detected by the Vietnam Oil and Gas Corporation and competent Vietnamese organizations in the process of auditing, tax accounts settlement and inspection.
Article 55.- The profit tax shall be paid in money; the currency to be used for the tax payment shall be the US dollar or any other convertible currencies accepted by the Ministry Finance. In cases where oil and gas are sold in Vietnamese Dong, the currency used for the profit tax payment shall be the Vietnamese Dong. The profit tax shall be paid temporarily every quarter and settled annually.
Article 56.- A foreign organization and/or individual conducting oil and gas activities shall have to pay taxes, fees and other charges prescribed by the Vietnamese law, except otherwise provided for by the Petroleum Law.
Chapter VII
STATE MANAGEMENT OVER OIL AND GAS ACTIVITIES
Article 57.- The Vietnamese Government shall exercise unified State management over oil and gas activities.
Basing itself on policies for the development of oil and gas industry, the oil and gas State management agency shall propose to the Vietnamese Government for decision the national reserve areas; areas to be prospected, explored and exploited by the Vietnam Oil and Gas Corporation; areas for cooperation with contractors; and areas encouraged for investment under preferential treatment conditions.
The oil and gas State management agency shall submit to the Vietnamese Government projects on international cooperation in oil and gas prospection, exploration and exploitation.
Article 58.- The oil and gas State management agency shall decide the delimitation and readjustment of the boundaries of lots for oil and gas prospection and exploration. The Vietnamese Government shall decide issues related to cooperation in oil and gas activities in areas where overlappings with foreign countries occur.
Article 59.- The oil and gas State management agency shall consider and submit to the Vietnamese Government for ratification petroleum contracts, permission on the transfer of the rights and obligations written in the petroleum contracts signed between the Vietnam Oil and Gas Corporation and the contractors.
With regard to petroleum contracts signed between the Vietnam Oil and Gas Corporation and foreign contractors, the Vietnamese Government shall assign to the Ministry of Planning and Investment the competence to grant investment licenses in accordance with the provisions of the Law on Foreign Investment in Vietnam.
Article 60.- The oil and gas State management agency shall, within the ambit of its powers, issue guiding documents, regulations, technical criteria on oil and gas prospection, exploration and exploitation.
Article 61.- The oil and gas State management agency shall decide the following issues:
1. Examining and inspecting oil and gas activities.
2. Submitting to the Vietnamese Government recommendations for promotion or restriction of oil and gas export.
3. Requesting the contractors to sell part of the exploited oil and gas to Vietnam.
4. Other important issues related to oil and gas activities.
Article 62.- The oil and gas State management agency shall coordinate with, guide and inspect branches and localities in matters related to oil and gas activities.
Article 63.- To ensure oil and gas activities, the concerned Ministries, branches and People�s Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall have to closely coordinate with each other in the allotment of land, rational use of water areas, especially those related to national security, aquacultural areas, vacation resorts or tourist spots.
Chapter VIII
INSPECTION OF OIL AND GAS ACTIVITIES
Article 64.- The inspection of oil and gas activities is the specialized inspection aimed at ensuring the observance of the Petroleum Law and other legal documents related to oil and gas activities. The oil and gas State management agency shall organize the performance of the function of the oil and gas specialized inspection and issue decisions on the inspection of oil and gas activities.
An inspection decision shall include the following major contents:
1. The composition of the inspection team.
2. Objects of the inspection.
3. Contents of the inspection.
4. Place of inspection.
5. Time limit of the inspection.
6. Requirements for the organization and/or individual conducting oil and gas activities and subject to the inspection.
Article 65.- To perform its tasks, the inspection team shall have the following powers:
1. To be given favorable conditions to conduct the inspection.
2. To bring along technical equipment necessary for the inspection activities.
3. To request the persons under inspection to provide necessary documents within a certain time limit.
Upon the expiry of such time limit, if the request of the inspection team is not met, the inspection team shall decide the application of other necessary measures to gather documents in accordance with the provisions of Vietnamese law.
4. To issue decisions on the temporary suspension of oil and gas activities likely to cause accidents and serious losses to the population, properties and environment.
The time limit for the temporary suspension shall not exceed 15 days. Within 24 hours from the moment when the decision is issued, the inspection shall have to make the decision known to the competent State management agency and propose measures of settlement. Within 15 days, the competent State agency shall have to issue a relevant decision.
5. To coordinate with the Ministry of Planning and Investment in inspecting foreign invested units that conduct oil and gas activities.
6. To propose the competent State management agencies to handle acts of violation of the oil and gas legislation.
Article 66.- The decision of the inspection team shall be communicated to objects of the inspection and state clearly the conclusions and recommendations of the inspection team.
If the objects of the inspection disagree with the decision of the inspection team, they shall within 15 days be entitled to complain with the competent State management agency.
Within 30 days from the date of receiving the complaint, the competent State management agency shall have to reply.
Pending the settlement of the complaint, the object of the inspection shall have to abide by the decision of the inspection team.
Article 67.- If the decision of the inspection team is not willingly implemented by the object of the inspection, administrative coercive measures shall be applied in accordance with the legislation on administrative sanctions.
Article 68.- While conducting the inspection, the inspection team shall have to observe the provisions of law and take responsibility before law for its decision.
Chapter IX
HANDLING OF VIOLATIONS
Article 69.- Levels of sanction against violations prescribed in Article 43 of the Petroleum Law are detailed as follows:
1. Unlawful oil and gas activities shall be fined up to 100,000 USD or equivalent.
2. Failure to observe the regulations prescribed in Article 60 of this Decree, thus causing damage to the oil and gas resources or the environment or damaging the State�s or individuals� properties shall be subjected to compensation and be fined up to 100,000 USD or equivalent.
3. Conducting oil and gas prospection, exploration and exploitation beyond the contractual area without permission from the competent State agency shall be fined up to 50,000 USD.
4. Making false statement, evading natural resources tax, profit tax and other taxes shall, in addition to the full payment of the taxes due, be fined for false statement and tax evasion as prescribed by the Vietnamese law.
5. Failure to inform the competent oil and gas State management agency and the Vietnam Oil and Gas Corporation of other minerals besides oil and gas or of antiques or valuable properties which have been discovered in the contractual area shall be fined up to 10,000 USD or the equivalent. The antiques or properties shall be confiscated.
6. Acts of obstructing inspection activities shall be fined up to 10,000 USD or equivalent.
In addition to the said-above sanctions, an organization or individual committing other administrative violations shall be handled in accordance with the provisions of the Ordinance on the Handling of Administrative Violations.
Article 70.- The competent oil and gas State management agency shall issue decisions on the handling of violations and sanctions as provided for in Article 69 of this Decree.
Article 71.- Competence to handle the above-said violations:
1. The competent oil and gas State management agency shall handle violations and decide the levels of fine in accordance with the provisions of Points 1, 2, 3, 4 and 5 of Article 69 of this Decree.
2. The Head of the inspection team shall handle violations and decide the levels of fine in accordance with the provisions of Point 6, Article 69 of this Decree.
Chapter X
IMPLEMENTATION PROVISIONS
Article 72.- The parties to the agreement on the establishment of the Vietsopetro Oil and Gas Joint Venture and the petroleum contracts signed before the promulgation of the Petroleum Law and this Decree are entitled to continue benefiting from economic rights and interests regarding tax rates, the mode of tax payment, the oil and gas profit dividends and the amount of oil and gas to be used for the recovery of expenditures already agreed upon in the agreement and contracts.
Article 73.- The State management agencies, within the ambit of their functions and powers, shall be responsible for guiding the implementation of this Decree.
Article 74.- This Decree takes effect from the date of its signing. The earlier stipulations on oil and gas activities which are contrary to this Decree are now annulled.
Article 75.- The Minister-Director of the Office of the Government, the Ministers, the Heads of the ministerial-level agencies, the Heads of the agencies attached to the Government, the Presidents of the People’s Committees of the provinces and cities directly under the Central Government, the Vietnam Oil and Gas Corporation and the organizations and individuals conducting oil and gas activities shall have to implement this Decree.
 

 
ON BEHALF OF THE GOVERNMENT
THE PRIME MINISTER




Vo Van Kiet

 
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!