Bản án số 828/2021/HNGĐ-ST ngày 15/04/2021 của TAND TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 828/2021/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 828/2021/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 828/2021/HNGĐ-ST ngày 15/04/2021 của TAND TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Thủ Đức (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 828/2021/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/04/2021 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Lê Thái S |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 828/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 15/4/2021
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC – TP HỒ CHÍ MINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Phụng
2. Bà Nguyễn Thị Quý
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Đoàn, là Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 15/4/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (cơ sở 3) – địa chỉ:
18 đường số 6, khu phố 5, phường Linh Chiểu, thành phố Thủ Đức; xét xử sơ thẩm công
khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý sơ thẩm số 912/TB-TLVA ngày 01/10/2020 về
việc tranh chấp ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2021/QĐXXST-
HNGĐ ngày 25/02/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 845/2021/QĐST-HNGĐ ngày
18/3/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Lê Thái S, sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ: 255/31/8 Quốc lộ X, khu phố Y, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ
Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1990 (có mặt)
Địa chỉ: 255/31/8 Quốc lộ X, khu phố Y, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ
Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 09 năm 2020; trong quá trình giải quyết vụ án
và tại tòa nguyên đơn ông Nguyễn Lê Thái S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị N tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn
nhân vào năm 2019, có tổ chức hỏi cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường
H, thành phố T vào ngày 06/5/2019. Sau khi tiến tới hôn nhân vợ chồng sống chung với
gia đình ông tại địa chỉ: 255/31/8 Quốc lộ X, khu phố Y, phường H, thành phố T. Cuộc
sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng tháng 9, tháng 10 năm 2020 thì phát sinh mâu
thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn đó là: Khi ông đến thăm con trai, hoặc gửi tiền chu cấp
cho con thì bà N đều gây khó dễ với ông, khi ông về thăm vợ cũ thì bà N cho rằng ông đi
ngoại tình với vợ cũ, kiếm chuyện gây sự với ông, ông cảm thấy bà N không chia sẻ với
ông, làm khó ông trong việc thể hiện trách nhiệm với con riêng của ông, bà N gọi anh em
người nhà đến làm khó ông, gây áp lực với ông, đổ lỗi cho ông thiếu trách nhiệm với vợ.
Từ đó dẫn đến giữa ông và bà N thường xảy ra cải vã, dần dần cuộc sống chung không
còn hạnh phúc; từ khoảng tháng 9, tháng 10 năm 2020 ông đã dọn ra ở riêng cho đến nay;
2
khi biết bà N bị tai nạn phải bó bột chân đi lại khó khăn ông cũng không về thăm hay giúp
đỡ gì cho bà N. Nay ông xác định tình cảm với bà N không còn, nên yêu cầu Tòa án giải
quyết cho ông được ly hôn với bà N.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung: không có.
- Về nợ chung: không có.
Bị đơn Nguyễn Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian tiến tới hôn nhân như lời ông S trình bày là
đúng; tuy nhiên về mâu thuẫn vợ chồng theo bà vợ chồng từ sau khi kết hôn chung sống
hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì; do vợ cũ tác động nên ông S mới thường xuyên kiếm
chuyện gây sự với bà, từ khoảng tháng 01/2021 ông S đã dọn nhà ra ngoài ở riêng cho đến
nay, thời gian này vợ chồng không có gặp nhau, khi bà bị tại nại phải bó bột chân ông S
cũng không về thăm và chăm sóc cho bà; cuộc sống vợ chồng như vậy nhưng bà xác định
tình cảm với ông S vẫn còn, nên bà không đồng ý ly hôn với ông S và đề nghị Tòa án xem
xét cho thêm thời gian để cho ông S suy nghĩ lại.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung: không có.
- Về nợ chung: không có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến về giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa
vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy
định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn, bị đơn
chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như
tại phiên tòa theo đúng quy định.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 87/2019, ngày
06/5/2019 do UBND phường H, thành phố T, TP. Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Lê
Thái S và bà Nguyễn Thị N thì quan hệ hôn nhân giữa ông S và bà N là hợp pháp, được
pháp luật công nhận.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các
đương sự tại phiên tòa hôm nay có cơ sở xác định hôn nhân giữa ông S và bà N không
hạnh phúc. Tại phiên tòa, ông S và bà N xác định ông S đã ra ở riêng từ tháng 9 năm
2020 đến nay, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, bà N bị tai nạn nhưng không liên lạc
được với chồng, ông S biết bà N bị tai nạn nhưng không quan tâm hỏi thăm chăm sóc.
Mặt khác, căn cứ kết quả xác minh tình trạng hôn nhân xác định khoảng tháng 7 năm
2020 giữa ông S và bà N có phát sinh mâu thuẫn được tổ trưởng tổ x, Khu phố y, phường
H hỗ trợ giải quyết mâu thuẫn, tại thời điểm đó bà N muốn tự tử nếu ông S ly hôn có sự
chứng kiến của bố, mẹ ông S. Do đó, xét thấy giữa ông S và bà N xảy ra mâu thuẫn trầm
trọng, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Bà N xác định tình cảm
vẫn còn, vẫn yêu chồng và muốn hàn gắn tuy nhiên ông S xác định không còn tình cảm
với bà N, không thể hàn gắn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, cuộc sống hôn
nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên ông S yêu
cầu ly hôn với bà N là có cơ sở nên chấp nhận. Về con chung: Không có; về tài sản
chung: Không có; về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào chứng
cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận
định, đánh giá đầy đủ, toàn diện, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án
như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án. Bị đơn bà Nguyễn Thị N cư trú tại địa chỉ
255/31/8 Quốc lộ X, khu phố Y, phường H, thành phố T; nên thẩm quyền giải quyết vụ
án Hôn nhân và Gia đình này theo trình tự sơ thẩm là Tòa án nhân dân thành phố Thủ
Đức; được pháp luật quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp. Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 09/9/2020; ông
Nguyễn Lê Thái S yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị N, thì vụ án có quan hệ tranh
chấp là tranh chấp về ly hôn; là loại tranh chấp được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều
28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu của các đương sự:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 87/2019 ngày
06/5/2019 của Uỷ ban nhân dân phường H, thành phố T cấp cho ông Nguyễn Lê Thái S
và bà Nguyễn Thị N; thì quan hệ hôn nhân giữa ông S và bà N là hợp pháp, được pháp
luật thừa nhận; trong quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc và có phát sinh
mâu thuẫn.
Theo ông S nguyễn nhân phát sinh mâu thuẫn đó là: Khi ông đến thăm con trai,
hoặc gửi tiền chu cấp cho con thì bà N đều gây khó dễ với ông, khi ông về thăm vợ cũ thì
bà N cho rằng ông đi ngoại tình với vợ cũ, kiếm chuyện gây sự với ông, ông cảm thấy bà
N không chia sẻ với ông, làm khó ông trong việc thể hiện trách nhiệm với con riêng của
ông, bà N gọi anh em người nhà đến làm khó ông, gây áp lực với ông, đổ lỗi cho ông
thiếu trách nhiệm với vợ. Từ đó dẫn đến giữa ông và bà N thường xảy ra cải vã, dần dần
cuộc sống chung không còn hạnh phúc; từ khoảng tháng 9, tháng 10 năm 2020 ông đã
dọn ra ở riêng cho đến nay; khi biết bà N bị tai nạn phải bó bột chân đi lại khó khăn ông
cũng không về thăm hay giúp đỡ gì cho bà N.
Theo bà N vợ chồng từ sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc, không có mâu
thuẫn gì; nhưng do vợ cũ tác động nên ông S mới thường xuyên kiếm chuyện gây sự với
bà, từ khoảng tháng 01/2021 ông S đã dọn nhà ra ngoài ở riêng cho đến nay, thời gian này
vợ chồng không có gặp nhau, khi bà bị tại nại phải bó bột chân ông S cũng không về
thăm và chăm sóc cho bà.
Tại phiên tòa ông S và bà N cùng thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân, thời gian ly
thân vợ chồng không có tạo điều kiện toàn tụ gia đình; khi bà bị tai nạn gãy chân ông S
cũng không về quan tâm chăm sóc lo cho bà. Qua xác minh tại địa phương được biết
khoảng tháng 7/2020, giữa ông S và bà N có phát sinh mâu thuẫn, được tổ trưởng tổ x,
khu phố y, phường H hỗ trợ giải quyết mâu thuẫn; tại thời điểm đó bà N muốn tự tử nếu
ông S ly hôn (có sự chứng kiến của bố mẹ, ông S).
Hiện nay vợ chồng ông S, bà N không có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn
trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc
trong gia đình. Vì vậy nếu kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc,
mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của ông S đối với bà N là có
căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014,
nên được chấp nhận.
[2.2]. Về con chung: không có.
[2.3]. Về tài sản chung: không có
4
[2.4] Về nợ chung: Không có
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng ông Nguyễn Lê Thái S phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
- Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Lê Thái S tại phiên
tòa sơ thẩm cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Lê Thái S và bà Nguyễn Thị
N.
Giấy chứng nhận kết hôn số 87/2019 ngày 06/5/2019 của Ủy ban nhân dân phường
H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý
- Về tài sản chung: Không có
- Về nợ chung: Không có
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Lê Thái S
phải chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp
theo biên lai thu số 0057772 ngày 29/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ
Đức (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng
nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền
kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
4. Quyền yêu cầu thi hành án: “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và 9 Luật Thi hành án
dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014)”./.
Nơi nhận: TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân TP. HCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.Thủ Đức;
- CC Thi hành án dân sự TP. Thủ Đức; (đã ký)
- Các đương sự
- Ủy ban nhân phường H,
Thành phố T, TP. Hồ Chí Minh;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.
Lê Công Tình
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 06/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm