Bản án số 454/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 454/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 454/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 454/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 454/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 454/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chia thừa kế quyền sử dụng đất giữa Trần Ngọc T và Trần Thanh L |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 454/2026/DS-PT
Ngày: 20/5/2026
“V/v tranh chấp về dân sự chia
thừa kế quyền sử dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Phú Thọ
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Lê Huy
Ông Võ Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hà Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Hà Ngọc Thư Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 3
năm 2026, về việc “Tranh chấp về dân sự chia thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực S - tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 892/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số:
753/2026/QĐ-PT, ngày 07 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1944.
Địa chỉ: Số C, tổ B, khóm C, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Ngọc T:
1. Bà Trần Thị Mỹ P, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Số C, tổ B, khóm C, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
2. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Số A, tổ E, khóm E, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Số nhà E, tổ E, khóm E, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Trần Thanh X, sinh năm 1949;
Địa chỉ: Số A, đường N, tổ F, khóm E, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
2. Ông Trần Thanh H, sinh năm 1951;
Địa chỉ: Số B, đường Ô, tổ D, khóm I, Phường M, tỉnh Đồng Tháp.
3. Bà Trần Thị Bích T1, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Số Nhà 98l, đường L, tổ B, khóm G, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
4. Bà Trần Thị Hoa L1, sinh năm 1956;
Địa chỉ: Số F, tổ A, khóm B, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Hoa L1: Ông Trần Thanh L,
sinh năm 1968;
Địa chỉ: Số nhà E, tổ E, khóm E, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
5. Bà Trần Thị Bé T2, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Số nhà E, tổ E, khóm E, Phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Bé T2: Ông Trần Thanh L,
sinh năm 1968;
Địa chỉ: Số nhà E, tổ E, khóm E, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
6. Bà Võ Thị Thu T3, sinh năm 1966, (vợ ông Trần Thanh N).
7. Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1986, (con ông Trần Thanh N).
Cùng địa chỉ: Tổ E ấp D, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số nhà E, tổ E, khóm E, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
8. Bà Trương Thị Kim H2, sinh năm 1966; (hộ ông L)
9. Anh Trần Thanh H3, sinh năm 1987; (hộ ông L)
10. Anh Trần Thanh L2, sinh năm 1990; (hộ ông L)
11. Anh Trần Thanh T4, sinh năm 1984; (hộ ông L)
12. Chị Nguyễn Yến N1, sinh năm 1992; (hộ ông L)
13. Chị Phạm Thị Ngọc Q1, sinh năm 1996; (hộ ông L)
14. Cháu Trần Ngọc Yến N2, sinh năm 2011; (hộ ông L)
15. Cháu Trần Gia B, sinh năm 2018; (hộ ông L)
Người đại diện theo pháp luật của Trần Ngọc Yến N2 và Trần Gia B là anh
Trần Thanh L2 và chị Nguyễn Yến N1 (cha mẹ ruột).
16. Cháu Trần Đan N3, sinh năm 2017; (hộ ông L)
17. Cháu Trần Ngọc Lan T5, sinh năm 2020; (hộ ông L)
Người đại diện theo pháp luật của Trần Đan N3 và Trần Ngọc L3 T5 là anh
Trần Thanh H3 và chị Phạm Thị Ngọc Q1 (cha mẹ ruột).
3
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị Kim H2, anh Trần Thanh
H3, anh Trần Thanh L2, anh Trần Thanh T4, anh Nguyễn Yến N1 và chị Phạm
Thị Ngọc Q1: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ: Số E, tổ E, khóm E, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị P, anh Q, ông L, ông X, ông H2 có mặt, những đương sự còn lại vắng
mặt tại phiên toà);
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Ngọc T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Ông Trần Ngọc T trình bày: Cha mẹ ông Trần Ngọc T là cụ Trần Văn T6
(1923 - 2005) và cụ Nguyễn Thị P1 (1929-2004) có 09 người con gồm: Trần
Ngọc T, Trần Thanh X, Trần Thanh H, Trần Thị Hoa L1, Trần Thị Bé T2, Trần
Thanh N (chết năm 2022 có vợ là Võ Thị Thu T3 và con là Trần Thanh H1),
Trần Thị Bích T1, Trần Thị Ngọc N4 (chết năm 1986, không chồng con) và
Trần Thanh L.
Lúc còn sống, cụ T6 và cụ P1 có khai hoang tạo lập được phần đất thuộc
thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09, diện tích 109,1m², mục đích sử dụng đất thổ,
tọa lạc Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phường M, tỉnh Đồng
Tháp). Cụ T6 và cụ P1 xây dựng nhà ở sinh sống trên phần đất phía trước của
thửa đất này, phần đất phía sau để trống và được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên vào ngày
05/8/2004 cho hộ bà Nguyễn Thị P1. Sau khi cụ T6 và cụ P1 chết, căn nhà và
đất do con trai út trong gia đình là ông Trần Thanh L tạm thời quản lý, sử dụng.
Khi cụ T6 và cụ P1 còn sống có lập Di chúc ngày 07/5/2004 với nội dung:
Đối với phần đất phía sau diện tích 26m², ngang 4m, dài 6,5m thuộc một phần
thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09 để lại cho ông Trần Ngọc T, tờ di chúc này
được lập theo đúng quy định pháp luật tại Điều 634 Bộ luật dân sự về di chúc có
người làm chứng, bởi lẽ: Đây là tài sản của cụ T6 và cụ P1, được cụ T6 và cụ P1
tự nguyện thống nhất nhờ ông T viết di chúc để lại di sản cho ông T. Cụ T6 và
cụ P1 ký tên vào Tờ di chúc trước mặt hai người làm chứng là thầy Minh Đ và
cô B1 tại chùa H4, thầy Minh Đ và cô B1 cũng đã xác nhận chữ ký của cụ T6 và
cụ P1 và ký tên vào bản di chúc. Đồng thời, sau khi cụ T6 và cụ P1 chết, ông T
cũng đã nhận đất và quản lý, sử dụng, xây dựng nhà trên đất để ở trong nhiều
năm, anh chị em trong gia đình đều biết nhưng không ai tranh chấp hay ngăn
cản. Đến khoảng năm 2017, ông T mới đi làm ăn xa, không có mặt ở địa phương
nên không thể trực tiếp quản lý, sử dụng phần diện tích đất này. Sau khi ông T
rời khỏi địa phương, ông L tự ý tháo dỡ căn nhà trên phần đất phía sau của ông
T và chiếm đất sử dụng mà ông T không hay biết.
Khi cụ P1 chết, thì cụ T6 có lập Tờ di chúc ngày 04/5/2005 để lại toàn bộ
thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09 và căn nhà xây dựng trên đất cho ông L. Tờ di
chúc này không hợp pháp, thửa đất số 194 là tài sản không thuộc quyền của cá
4
nhân cụ T6, cụ T6 không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
đó không có quyền lập di chúc để lại tòan bộ thửa đất và căn nhà cho ông L.
Nay nguyên đơn ông Trần Ngọc T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
những nội dung sau:
Yêu cầu công nhận Tờ di chúc phần sau ngày 07/5/2004 của cụ Trần Văn
T6 và cụ Nguyễn Thị P1 là hợp pháp;
Công nhận cho ông T được quản lý, sử dụng phần di sản theo di chúc ngày
07/5/2004 là diện tiến 26m² (ngang 4m x dài 6,5m) thuộc một phần thửa đất số
194, tờ bản đồ số 09, diện tích 109,1m², mục đích sử dụng đất thổ, tọa lạc
Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phường M, tỉnh Đồng Tháp),
được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
05/8/2004 cho hộ bà Nguyễn Thị P1;
Yêu cầu tuyên bố Tờ di chúc ngày 04/5/2005 là vô hiệu;
Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản thừa kế của cụ Trần Văn T6 và
cụ Nguyễn Thị P1 đối với diện tích (109,1m
2
- 26m
2
) = 83,1m², thuộc một phần
thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09, đất ODT, tọa lạc tại khóm E, Phường A, thành
phố C, tỉnh Đồng Tháp, được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 05/8/2004 cho hộ bà Nguyễn Thị P1 cho 08 người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của cụ T6 và cụ P1 gồm: Trần Ngọc T, Trần Thanh X,
Trần Thanh H, Trần Thị Hoa L1, Trần Thị Bé T2, Trần Thanh N (những người
thuộc hàng thừa kế của ông N), Trần Thị Bích T1, Trần Thanh L mỗi người
được hưởng 1/8, tương đương diện tích ((109,1m
2
- 26m
2
) = 83,1m
2
: 8) =
10,38m²;
Ông T yêu cầu nhận giá trị không yêu cầu nhận đất: Cụ thể như sau: Diện
tích thừa kế theo di chúc 26m² + Diện tích thừa kế theo pháp luật 10,38m² =
36,38m² x giá 14.524.444 đồng/m
2
= 528.399.273 đồng; Ông T yêu cầu các
đồng thừa kế (hoặc người trực tiếp quản lý, sử dụng đất) có nghĩa vụ thanh toán
cho ông T giá trị phần di sản ông T được hưởng từ cụ T6 và cụ P1 là số tiền
528.399.273 đồng.
Ông T không tranh chấp yêu cầu gì đối với căn nhà và toàn bộ tài sản trong
nhà do ông L đang quản lý, không tranh chấp gì đối với phần đất đo đạc dư ra,
chỉ yêu cầu đúng diện tích 109,1m
2
trong giấy đất cấp cho hộ bà P1.
Ông T không đồng ý yêu cầu phản tố của ông L. Ông T không yêu cầu Tòa
án giám định chữ ký, chữ viết trong các di chúc, di chúc có hợp pháp hay không
sẽ do Tòa án xem xét quyết định. Đối với Tờ di chúc ngày 01/4/2004 ông T
không yêu cầu Tòa án giải quyết vì thực tế di chúc này không có giá trị pháp lý
nên tính hợp pháp của di chúc sẽ do Tòa án xem xét quyết định.
Ông T thống nhất xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp
chia thừa kế. Phần đất diện tích 109,1m
2
thửa 194, tờ bản đồ số 9 (nay là thửa
194, tờ bản đồ số 78) đất tọa lạc phường M, tỉnh Đồng Tháp là di sản thừa kế do
cụ Trần Văn T6 (1923-2005) và cụ Nguyễn Thị P1 (1929-2004) để lại. Ông T
5
chỉ yêu cầu đúng với diện tích được cấp theo giấy chứng nhận là 109,1m
2
, phần
diện tích chênh lệch dư ra theo đo đạc thực tế là 12m
2
(121,1m
2
- 109,1m
2
) theo
Sơ đồ đo đạc 14/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C
ông T không yêu cầu. Đối với phần diện tích 17,3m
2
trong phạm vi các mốc A,
B, C, O, A và 1,1m
2
trong phạm vi các mốc O, C, D, M, O nằm ngoài diện tích
đất được cấp nên không tranh chấp. Ông T thống nhất với sơ đồ đo đạc, biên bản
xem xét thẩm định, kết luận định giá do ông T giao nộp theo chứng thư thẩm
định giá. Đối với căn nhà và tài sản trong nhà không tranh chấp, đối với diện
tích sử dụng thực tế chênh lệch hơn phần diện tích được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không tranh chấp.
- Bị đơn ông Trần Thanh L có ý kiến trình bày và có đơn yêu cầu phản tố
với nội dung như sau:
Ông L không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T, khi cha mẹ còn sống đã
giao phần đất này cho ông L theo Tờ di chúc ngày 04/5/2005 và Tờ di chúc ngày
01/04/2004, các tờ di chúc đều có người làm chứng và có xác nhận của chính
quyền địa phương nên ông L được thừa kế tài sản do cha mẹ để lại.
Nay ông L yêu cầu phản tố với nội dung như sau:
Yêu cầu công nhận Tờ di chúc ngày 04/5/2005 và Tờ di chúc ngày
01/04/2004 là hợp pháp.
Công nhận cho ông L được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất cha mẹ đã
chia di sản thừa kế cho ông L đối với diện tích 109.1m
2
thuộc thửa 194, tờ bản
đồ số 9 (nay là thửa 194, tờ bản đồ số 78) đất tọa lạc phường M, tỉnh Đồng
Tháp, diện tích đo đạc thực tế là 121,1m
2
trong phạm vi các mốc M, D, E, F, G,
H, K, L, M theo Sơ đồ đo đạc 14/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Yêu cầu tuyên bố Tờ di chúc ngày 07/5/2004 là vô hiệu.
Ông L không yêu cầu Tòa án giám định chữ ký, chữ viết trong các di chúc,
di chúc có hợp pháp hay không sẽ do Tòa án xem xét quyết định. Ông L thống
nhất xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp chia thừa kế. Phần
đất diện tích 109,1 m
2
thửa 194, tờ bản đồ số 9 (nay là thửa 194, tờ bản đồ số
78) đất tọa lạc phường M, tỉnh Đồng Tháp là di sản thửa kế do cụ Trần Văn T6
(1923-2005) và cụ Nguyễn Thị P1 (1929-2004) để lại.
- Tại biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 31/7/2025, người đại
diện ủy quyền của nguyên đơn Trần Ngọc T có ông Nguyễn Tấn T7, bị đơn ông
Trần Thanh L (đồng thời là đại diện ủy quyền bà Trần Thị Hoa L1, bà Trần Thị
Bé T2 và các thành viên trong hộ ông L) và những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Trần Thanh X và ông Trần Thanh H thống nhất các nội dung sau:
Thống nhất xác định mặc dù đất cấp cho hộ bà Nguyễn Thị P1 nhưng nguồn gốc
đất là do cụ P1 và cụ T6 tạo lập, các con không có công sức đóng góp. Do đó,
các đương sự thống nhất phần nhà và đất thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09, diện
tích 109,1m², mục đích sử dụng đất thổ, tọa lạc Phường A, thành phố C, tỉnh
Đồng Tháp (nay là Phường M, tỉnh Đồng Tháp) là di sản thừa kế do cụ Trần
6
Văn T6 (1923 - 2005) và cụ Nguyễn Thị P1 (1929-2004) để lại; Thống nhất cụ
Trần Văn T6 (1923 - 2005) và cụ Nguyễn Thị P1 (1929-2004) có 09 người con
gồm: Trần Ngọc T, Trần Thanh X, Trần Thanh H, Trần Thị Hoa L1, Trần Thị
Bé T2, Trần Thanh N (chết 2022, có vợ là Võ Thị Thu T3 và con là Trần Thanh
H1), Trần Thị Bích T1, Trần Thị Ngọc N4 (chết năm 1986 không có chồng con)
và Trần Thanh L. Cam kết không có ai khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ
T6 và cụ P1; Thống nhất giá do nguyên đơn cung cấp tại Chứng thư thẩm định
giá số 470/2025/20 ngày 26/6/2025 của Công ty CP Đ1, kết luận giá đất ở tại
Phường M có giá 14.524.444 đồng/m
2
. Ngoài ra, không cung cấp giá nào khác.
Các đương sự không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết trong các di chúc, tính
hợp pháp của các di chúc sẽ do Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Tấn T7 trình bày: Ông T xác định phần đất thửa 259 (thửa
mới 194) dù đất cấp cho hộ bà P1 nhưng thống nhất xác định đây là tài sản của
cụ T6 và cụ P1 để lại, ngoài phần đất tại thửa 194, tờ bản đồ số 09 thì cụ T6 và
cụ P1 không còn di sản nào khác. Tại phần đất phía sau thuộc thửa 194, tờ bản
đồ số 09, ông T được cha mẹ cho và cất nhà sinh sống từ năm 2000. Đến năm
2017, ông T đi làm ăn xa nên ở nhà ông L và ông H gỡ bỏ căn nhà này mà
không báo ông T biết, ông T có báo chính quyền địa phương nhưng không có
lập biên bản, chỉ xuống xem xét chứ không ghi biên bản nên không có tài liệu,
chứng cứ cung cấp cho Tòa án.
Khi còn sống, cụ T6 và cụ P1 đã có lập di chúc cho ông T phần diện tích
đất phía sau ngang 4m dài 6,5m tổng diện tích 26m
2
, di chúc do ông T là người
trực tiếp viết nhưng dựa trên ý chí của cụ P1 và cụ T6, có sự làm chứng của sư
Bà và sư T8 chùa H4 (không biết thông tin cụ thể) vì cả hai đã chết, di chúc
được lập tại chùa khi đó cụ T6 và cụ P1 vào chùa để tu nên lập di chúc tại chùa,
di chúc không có sự xác nhận của địa phương nhưng nội dung di chúc đề kính
gửi Ủy ban nhân dân Phường A là do sự thiếu hiểu biết pháp luật của ông T, dù
không có xác nhận của Ủy ban nhân dân nhưng đó là ý chí cụ T6 và cụ P1 có sự
chứng kiến của người làm chứng nên có hiệu lực pháp luật.
Đề nghị Tòa án công nhận Di chúc ngày 07/5/2004 là hợp pháp; Công nhận
cho ông T được nhận giá trị phần di sản theo di chúc ngày 07/5/2004 là diện tích
26m² (ngang 4m x dài 6,5m) thuộc một phần thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09,
diện tích 109,1m
2
- 26m² = 83,1m
2
; Yêu cầu tuyên bố Tờ di chúc ngày
04/5/2005 là vô hiệu; Chia thừa kế theo pháp luật di sản thừa kế của cụ T6 và cụ
P1 đối với phần diện tích còn lại 83,1m², mỗi người được hưởng 1/8 kỷ phần,
tương đương diện tích ((109,1m
2
- 26m
2
) = 83,1m
2
/8) = 10,38m². Ông T yêu cầu
được nhận giá trị tương đương diện tích đất được hưởng: Diện tích thừa kế theo
di chúc 26m² + Diện tích thừa kế theo pháp luật 10,38m² = 36,38m² x
14.524.444đồng/m
2
= 528.399.273 đồng. Ông T yêu cầu các đồng thừa kế (hoặc
người trực tiếp quản lý, sử dụng đất) có nghĩa vụ thanh toán cho ông T giá trị
phần di sản ông T được hưởng từ cụ T6 và cụ P1 tương ứng số tiền 528.399.273
đồng.
7
Ông T không tranh chấp yêu cầu gì đối với căn nhà và toàn bộ tài sản trong
nhà do ông L đang quản lý, không tranh chấp gì đối với phần đất đo đạc dư ra,
chỉ yêu cầu nhận giá trị tương đương đúng với diện tích trong giấy chứng nhận
hộ bà P1 được cấp là 109,1m
2
, phần chêch lệch dư do đo đạc thực tế ông T
không yêu cầu, không tranh chấp. Ông T không yêu cầu ông L và ông H bồi
thường căn nhà đã gỡ bỏ trên phần đất phía sau của ông T. Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất bản chính thửa 194, ông T không giữ do ông L đang giữ.
Đối với yêu cầu của ông L, ông T không đồng ý, Tờ di chúc ngày
04/5/2005 của cụ T6 lập mà cụ T6 không phải là người đứng tên trong giấy
chứng nhận nên cụ T6 không có quyền lập di chúc nên di chúc này không hợp
pháp. Còn đối với Di chúc ngày 01/4/2004, quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa Tòa án đã giải thích để có ý kiến và yêu cầu đối với di chúc ngày
01/4/2004 nhưng ông T tự xác định di chúc này không có giá trị nên không yêu
cầu, không yêu cầu giám định chữ ký cụ P1 và cụ T6. Ông L yêu cầu công nhận
Di chúc ngày 01/4/2004 là quyền của ông L, tính hợp pháp của di chúc sẽ do
Tòa án xem xét quyết định, ông T không có ý kiến, yêu cầu đối với di chúc này.
- Ông Trần Thanh L trình bày: Ông T trình bày không đúng sự thật, ông T
thực tế không có đi làm ăn xa, ông T vẫn sinh sống tại địa phương nhưng sống
cùng với con trai, không sống tại địa chỉ nhà ông L. Thời điểm trước năm 2000
ông T có một mình về sống chung với ông L tại căn chòi phía sau do cụ T6 dựng
lên để tu, đến sau năm 2000 nước ngập úng nên mới dẹp bỏ cái chòi này và ông
T cũng có biết.
Khi đó có báo với ông T đến dọn đồ dùng cá nhân nhưng ông T bảo tài sản
không có giá trị nên kêu bỏ đi. Khi cha mẹ còn sống đã lập Tờ di chúc ngày
01/4/2004 có sự chứng kiến và ký tên của các anh chị em, cha mẹ giao phần đất
này cho ông L quản lý, sử dụng để thờ cúng Liệt sĩ và ông bà cha mẹ sau khi
mất cho đến nay các anh em đều biết và không ai tranh chấp.
Khi lập di chúc ngày 01/4/2004 cụ T6 và cụ P1 có ra Ủy ban nhân dân
phường yêu cầu xác nhận nhưng thời điểm đó cha mẹ lớn tuổi nên Ủy ban nhân
dân đề nghị giám định sức khỏe, đến tháng 11/2004 thì cụ P1 chết. Sau đó có kết
quả giám định của cụ T6 nên đến ngày 04/5/2005 Ủy ban nhân dân đã đồng ý
chứng thực di chúc của cụ T6 để lại, nội dung di chúc ngày 01/4/2004 và di chúc
ngày 04/5/2005 là giống nhau đều là di nguyện của cụ T6 và cụ P1 khi còn sống
là để tài sản lại cho ông L.
Với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của các chị em gồm bà T2, bà
L1 và vợ con trong hộ đều thống nhất xác định đây là di sản của cha mẹ để lại,
không phải tài sản trong hộ, các con không có công sức đóng góp gì. Cha mẹ
chết đã lập di chúc để lại nhà và đất cho ông L quản lý, sử dụng, ông L cũng là
người thờ cúng Liệt sĩ, cụ T6 và cụ P1 đều được tặng Huân chương của Nhà
nước. Căn nhà được cha mẹ xây dựng từ trước năm 1975 đến nay vẫn chưa có
tiền sửa chữa, ông L chỉ tạm thời sửa chữa những chổ hư hỏng chứ không tôn
tạo mới, nhà hiện có vách tường và ván, nền lót gạch tàu. Chính quyền địa
phương có cho tiền xây dựng nhà tình thương do gia đình chính sách nhưng do
8
không có tiền đối ứng nên đến nay vẫn chưa được xây dựng. Ông L và các thành
viên trong hộ ông L đã ủy quyền cho ông L xác định không có công sức tôn tạo,
xây dựng gì thêm đối với phần di sản cụ T6 và cụ P1 để lại nên không có ý kiến,
yêu cầu gì liên quan đến công sức tôn tạo, gìn giữ di sản thừa kế trong vụ án
này.
Ông T không sống chung với ông L nhưng có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ
nhà ông L là vì khi đó gia đình ông T không có nơi đăng ký cư trú nên ông L có
đi đăng ký cho hộ ông T thêm 01 sổ hộ khẩu cùng địa chỉ nhà ông L. Thực tế
ông T và hộ ông T không có sinh sống tại địa chỉ số nhà E, tổ E, khóm E,
Phường A, thành phố C, Đồng Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp).
Ông T tự cung cấp di chúc ngày 07/5/2004, anh em trong gia đình không ai
biết nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T. Hiện tại ông L đang giữ bản
chính giấy đất được cấp năm 2000, ông L không cầm cố, thế chấp cho bất kỳ cơ
quan, tổ chức nào khác.
- Ông Trần Thanh X và ông Trần Thanh H thống nhất trình bày: Ông X và
ông H thống nhất với ý kiến của ông L, không thống nhất với ý kiến của ông T7,
ông T7 không biết gì về sự việc của gia đình những gì ông T7 trình bày không
đúng sự thật, căn chòi phía sau nhà là do cụ T6 dựng lên để ở, sau đó một thời
gian thì ông T có về sống nhưng sau đó ông T không ở nữa. Khi còn sống cha
mẹ đã có lập di chúc để nhà và đất cho ông L, các anh em đều chứng kiến ký tên
khi cha mẹ lập di chúc, có người làm chứng sở dĩ cha mẹ để lại di sản cho ông L
là vì ông L là con trai út, sống chung nhà với cha mẹ và là người thờ cúng Liệt
sĩ. Việc cha mẹ lập di chúc đều có sự đồng thuận của các anh chị em, chỉ có ông
T không ký tên. Khi còn sống cha mẹ không có lập di chúc cho ông T, ông T
cũng không có đi làm ăn xa như ông T7 trình bày, ông T vẫn đi chạy xe ôm ở
khu vực xung quanh địa phương và hiện đang sống cùng con trai, do hoàn cảnh
khó khăn nên ông T được hội tình thương cất cho căn nhà. Cha mẹ chỉ có duy
nhất di sản phần nhà và đất do ông L đang quản lý, sử dụng ngoài ra không có di
sản nào khác và đã có di chúc cho ông L. Vì vậy, đề nghị Tòa án không chấp
nhận yêu cầu của ông T chấp nhận yêu cầu của ông L. Ông H và ông X chỉ nói
đúng sự thật và không có ý kiến, không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa đều thống nhất với sơ đồ đo đạc, giá đất
do ông T cung cấp, không tranh chấp phần diện tích chênh lệch, không tranh
chấp phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận, không tranh chấp căn nhà và tài
sản trong nhà. Thống nhất xác định phần nhà và đất là di sản của cụ T6 và cụ P1
để lại, các con không có công sức, không có liên quan trong khối tài sản này,
thống nhất hàng thừa kế còn lại 09 người con. Không yêu cầu giám định chữ ký
và chữ viết của cụ T6 và cụ P1.
* Tại bản án dân s sơ thẩm số: 04/2026/DS-ST, ngày 22 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vc S – Đồng Tháp đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần
Ngọc T.
9
2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Thanh L.
- Tuyên bố Tờ di chúc phần sau ngày 07/5/2004 là không hợp pháp.
- Công nhận Tờ di chúc ngày 01/4/2004 và Tờ di chúc ngày 04/5/2005 là
hợp pháp.
Ông Trần Thanh L được quản lý, sử dụng phần đất diện tích 109,1m
2
thuộc
thửa 194, tờ bản đồ số 9 nay là thửa 194, tờ bản đồ số 78 (thửa cũ 259, tờ bản đồ
số 02) diện tích đo đạc thực tế 121,1m
2
trong phạm vi các mốc M, D, E, F, G, H,
K, L, M theo Sơ đồ đo đạc 14/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ2).
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và
thi hành án.
Ngày 04 tháng 02 năm 2026, nguyên đơn ông Trần Ngọc T kháng cáo đối
với bản án sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 22/01/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực S – Đồng Tháp yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn
bộ yêu cầu của ông T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện của nguyên đơn ông Trần Ngọc T trình bày: Giữ nguyên
yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo;
- Bị đơn ông Trần Thanh L trình bày: Giữ nguyên yêu cầu và không đồng ý
yêu cầu kháng cáo của ông T; Đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh X và ông Trần
Thanh H cùng trình bày: Cha mẹ các ông đã lập di chúc cho ông L toàn bộ diện
tích đất tranh chấp; ông T chỉ ở tạm trên đất; các ông không biết tờ di chúc do
ông T cung cấp.
Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xt xử và các đương sự trong quá trình
giải quyết vụ án đảm bảo chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ
luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của ông T; Đề nghị sửa phần án
phí sơ thẩm buộc ông L phải chịu án phí theo mức có giá gạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét kháng cáo của ông Trần Ngọc T đúng về hình thức, nội dung được
nộp trong hạn luật định nên kháng cáo của ông Trần T được xem xét giải quyến
theo thủ tục phúc thẩm.
10
- Về xét xử vắng mặt: Đối với của các đương sự vắng mặt đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, không vì sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có yêu cầu độc lập, không có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy
định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn,
quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ đều thống nhất xác định quyền sử dụng đất tại thửa 194, tờ bản đồ số 9
(nay là thửa 194, tờ bản đồ số 78) đất tọa lạc phường M, tỉnh Đồng Tháp được
cấp cho hộ bà Nguyễn Thị P1 là di sản do cụ T6 và cụ P1 chết để lại. Nguyên
đơn, bị đơn tranh chấp chia thừa kế tài sản nên Toà án cấp sơ thẩm xác định
tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất là
phù hợp.
[2] Về nội dung, xét kháng cáo của ông Trần Ngọc T:
[2.1] Về di sản thừa kế: Phần đất có diện tích 109,1m
2
thuộc thửa số 194, tờ
bản đồ số 9 (nay là thửa số 194, tờ bản đồ số 78) diện tích đo đạc thực tế là
121,1m
2
trong phạm vi các mốc M, D, E, F, G, H, K, L, M theo Sơ đồ đo đạc
14/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Đồng
Tháp (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ2) đất tọa lạc phường M, tỉnh Đồng Tháp
được Ủy ban nhân dân thị xã C, tỉnh Đồng Tháp cấp cho hộ bà Nguyễn Thị P1
ngày 05/8/2004.
Các đương sự thống nhất xác định đây là di sản thừa kế do cụ Trần Văn T6
và cụ Nguyễn Thị P1 để lại, các thành viên khác trong hộ và các con không có
công sức đóng góp, không tranh chấp yêu cầu gì liên quan đến công sức quản lý,
tôn tạo di sản. Ngoài di sản này thì cụ T6 và cụ P1 không còn di sản nào khác.
[2.3] Về hàng thừa kế: Căn cứ vào Tờ khai hàng thừa kế và ý kiến của các
đương sự đã thống nhất xác định cụ Trần Văn T6 (sinh năm 1923 - chết ngày
04/8/2005) và cụ Nguyễn Thị P1 (sinh năm 1929 - chết ngày 29/11/2004), cụ T6
và cụ P1 có 09 người con gồm: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1944, ông Trần
Thanh L, sinh năm 1968, ông Trần Thanh X, sinh năm 1949, ông Trần Thanh H,
sinh năm 1951, bà Trần Thị Hoa L1, bà Trần Thị Bé T2, ông Trần Thanh N,
sinh năm 1964 (chết năm 2022, có vợ là Võ Thị Thu T3 và con là Trần Thanh
H1, sinh năm 1986), bà Trần Thị Bích T1, sinh năm 1968, bà Trần Thị Ngọc
N4, sinh năm 1966 (chết năm 1986 không có chồng con). Cha mẹ cụ T6 và cụ
P1 đã chết, ngoài ra không còn ai khác (cha mẹ nuôi, con nuôi nào khác) thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của cụ T6 và cụ P1.
[2.3] Ông T xác định cụ T6 và cụ P1 đã lập di chúc cho ông một phần đất
phía sau ngang 4m x dài 6,5m có diện tích 26m
2
, phần đất còn lại không nằm
trong di chúc (109,1m
2
– 26m
2
) = 83,1m
2
ông T yêu cầu chia thừa kế theo pháp
luật cho 08 người con (83,1m
2
: 8) = 10,83m
2
, ông T yêu cầu nhận giá trị của
tổng diện tích 26m
2
+ 10,83m
2
= 36,38m
2
tương đương số tiền 528.399.273
đồng.
11
Ông L xác định cụ T6 và cụ P1 đã lập di chúc để lại toàn bộ di sản cho ông
L, ông L yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích 109,1m
2
(diện
tích đo đạc thực tế là 121,1m
2
).
- Ông T cung cấp bản chính “Tờ di chúc phần sau ngày 07/5/2004”, ông L
cung cấp 02 bản chính “Tờ di chúc ngày 01/4/2004” và “Tờ di chúc ngày
04/5/2005”, ông T và ông L đều xác định chữ viết ký tên trong các di chúc đều
do cụ T6 và cụ P1 ghi; ông T và ông L không yêu cầu giám định chữ viết ký tên
của cụ T6 và cụ P1 trong các di chúc, tính hợp pháp của các di chúc sẽ do Tòa
án căn cứ vào quy định của pháp luật để quyết định. Do không ai yêu cầu giám
định nên chữ viết ký tên trong bản chính 03 tờ di chúc do ông T và ông L cung
cấp được xem là chữ viết ký tên của cụ T6 và cụ P1.
[2.4] Xét tính hợp pháp của di chúc:
- Tờ di chúc ngày 01/4/2004 (tờ di chúc đầu tiên) qua nội dung di chúc thể
hiện ý chí của cụ T6 và cụ P1 nhằm chuyển tài sản duy nhất của cụ T6 và cụ P1
cho con ruột thứ 9 là ông Trần Thanh L được thừa kế và sử dụng. Tại thời điểm
cụ T6 và cụ P1 lập Tờ di chúc ngày 01/4/2004 có 02 người làm chứng ông Trần
Văn M và ông Dương Văn P2 cùng với sự đồng thuận của các con gồm Trần
Thanh H, Trần Thị Bé T2, Trần Thị Bích T1, Trần Thanh X, Trần Thị Hoa L1,
Trần Thanh N ký tên và ghi họ tên vào di chúc. Như vậy, khi lập di chúc cụ T6
và cụ P1 không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép, nội dung di chúc không trái
pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật,
căn cứ vào quy định tại khoản 4 Điều 655 Bộ luật Dân sự năm 1995 xác định Tờ
di chúc ngày 01/4/2004 là hợp pháp.
- Tờ di chúc phần sau ngày 07/5/2004 (tờ di chúc thứ hai) qua nội dung di
chúc xét thấy không có sự rõ ràng về ý chí của người để lại di chúc, không xác
định được đây là lời trình bày của ông Trần Ngọc T hay lời trình bày của cụ T6
và cụ P1 vì di chúc có đoạn ghi “Trong khi cha mẹ tôi cho phần đất đó có thầy
Minh Đ ở tại chùa H4 có nghe thấy rõ ràng và cô B1 ở chùa cũng có nghe có
biết. Nhờ sự chứng thực của UBND phường A, thị xã C, tỉnh Đồng Tháp, đừng
để sau này xảy ra tranh chấp không tốt đẹp, thành thật biết ơn”. Người làm
chứng trong di chúc không xác định được thông tin cụ thể, nội dung di chúc
không thể hiện người để lại di sản và người nhận di sản thừa kế. Tại phiên tòa
người đại diện theo ủy quyền của ông T xác định di chúc là do ông T tự viết.
Các anh em của ông T không ai chứng kiến và không thừa nhận với tờ di chúc
ông T cung cấp và xác định khi cụ T6 và cụ P1 còn sống không có di nguyện để
lại phần đất phía sau cho ông T như ông T trình bày.
Do đó Tờ di chúc phần sau ngày 07/5/2004 không đảm bảo về nội dung và
hình thức của di chúc bằng văn bản có người làm chứng theo quy định tại các
Điều 655, 656, 657 và Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 1995 nên Tờ di chúc phần
sau ngày 07/5/2004 không hợp pháp.
- Tờ di chúc ngày 04/5/2005 (tờ di chúc thứ ba) được Ủy ban nhân dân
phường A chứng thực. Di chúc được lập sau khi cụ P1 qua đời, mặc dù nội dung
di chúc quyết định toàn bộ tài sản của cụ T6 và cụ P1 nhưng nội dung Tờ di
12
chúc ngày 04/5/2005 do cụ T6 lập phù hợp với ý chí cụ P1, không mâu thuẫn
với nội dung Tờ di chúc ngày 01/4/2004 do cụ T6 và cụ P1 cùng lập, cùng di
nguyện định đoạt tài sản chung, cùng chỉ định người thừa kế là con trai út là ông
Trần Thanh L được hưởng di sản sau khi cụ T6 và cụ P1 qua đời. Do Tờ di chúc
ngày 01/4/2004 là hợp pháp nên Tờ di chúc ngày 04/5/2005 hợp pháp.
Từ những phân tích nêu trên xét thấy: Bản án sơ thẩm giải quyết không
chấp nhận yêu cầu của ông T và chấp nhận yêu cầu của ông L là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông T không cung cấp chứng cứ gì mới để chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ.
[3] Xt đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề
nghị không chấp nhận kháng cáo của ông T là phù hợp nên chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Ngọc T là người cao tuổi, nên được
miễn án phí phúc thẩm;
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bản án sơ thẩm buộc ông L phải chịu theo mức
án phí không có giá gạch là chưa phù hợp với quy định tại điểm a khoản 7 Điều
27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án nên cần điều chỉnh lại cho phù hợp và buộc ông L phải chịu
64.767.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
5.175.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004976 ngày
16 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Ông L phải nộp
tiếp số tiền 59.592.000 đồng.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 148; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ các Điều 649, 650, 651, 652, 653, 655, 656, 657, 659, 660, 666,
671, 672 Bộ luật Dân sự năm 1995; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Ngọc T;
2. Sửa một phần quyết định bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày
22 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực S – Đồng Tháp.
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần
Ngọc T.
4. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Thanh L.
- Tuyên bố Tờ di chúc phần sau ngày 07/5/2004 là không hợp pháp.
13
- Công nhận Tờ di chúc ngày 01/4/2004 và Tờ di chúc ngày 04/5/2005 là
hợp pháp.
Ông Trần Thanh L được quản lý, sử dụng phần đất diện tích 109,1m
2
thuộc
thửa 194, tờ bản đồ số 9 nay là thửa 194, tờ bản đồ số 78 (thửa cũ 259, tờ bản đồ
số 02) diện tích đo đạc thực tế 121,1m
2
trong phạm vi các mốc M, D, E, F, G, H,
K, L, M theo Sơ đồ đo đạc 14/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ2).
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/6/2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Cao Lãnh và Sơ đồ đo đạc 14/6/2025 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Đồng Tháp).
Đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê
khai và đăng ký điều chỉnh đối với diện tích đất được sử dụng và chịu trách
nhiệm nộp các khoản thu theo quy định pháp luật (nếu có).
5. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, tổng số
tiền 3.850.000 đồng ông Trần Ngọc T phải chịu, ông T đã tạm ứng và chi xong.
6. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Ngọc T là người cao tuổi và có đơn xin
miễn tiền án phí nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định;
Ông Trần Thanh L phải nộp 64.767.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.175.000 đồng theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004976 ngày 16 tháng 10 năm 2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Ông L phải nộp tiếp số tiền 59.592.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Ngọc T là người cao tuổi, nên được
miễn án phí phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vực S - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
14
Nguyễn Phú Thọ
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm