Bản án số 152/2020/DS-PT ngày 23/12/2020 của TAND tỉnh Sóc Trăng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 152/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 152/2020/DS-PT ngày 23/12/2020 của TAND tỉnh Sóc Trăng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Sóc Trăng
Số hiệu: 152/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/12/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vạn Hưng Đ nay là Công ty TNHH THE S về việc yêu cầu các bị đơn ông Đỗ Văn B, bà Trần Thị Mỹ N có nghĩa vụ liên đới trả tiền mua vật tư nông nghiệp còn nợ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH SÓC TRĂNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 152/2020/DS-PT
Ngày: 23- 12- 2020.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
NHÂN DANH
NƯC CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Phụng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Khương.
Bà Trương Tố Hương.
- Thư phiên tòa: Thị Nghi - Thư Tòa án nhân n tỉnh Sóc
Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng: ng Thị Thúy
Hằng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 131/2020/TLPT-DS ngày 29
tháng 10 năm 2020, về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.
Do bản án n sự thẩm số 23/2020/DS-ST, ngày 01 tháng 9 năm 2020
của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số: 167/2020/QĐ-PT ngày
17 tháng 11 năm 2020 Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số:
174/2020/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (viết tắt: Cty
TNHH MTV) Vạn Hưng Đ. Nay là Công ty TNHH THE S (viết tắt: THE S).
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Quốc T, sinh năm
1984 Chức vụ Giám đốc.
Địa chỉ: Ấp 22, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Kim Điền P, sinh năm
1993. Địa chỉ: ấp 2, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Theo văn bản ủy quyền
ngày 25/11/2020) (có mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Ông Đỗ Văn B, sinh năm 1972 (vắng mặt).
2.2. Bà Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1965 (vắng mặt).
2
Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Phạm Ngọc N2, sinh năm
1989 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị N3, sinh năm
1962. Địa chỉ: Ấp 22, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị N3: Ông Kim Điền P,
sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp 2, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Theo văn bản
ủy quyền ngày 25/08/2020) (có mặt).
4. Người kháng cáo: Phm Ngc N2 người đại din theo y quyn
ca các b đơn.
NỘI DUNG VÁN:
Theo tài liệu chứng ctrong hồ sơ, nội dung vụ kiện được tóm tắt như
sau:
* Theo đơn khởi kiện ngày 17/12/2019 của nguyên đơn Cty TNHH MTV
Vạn Hưng Đ nay Công ty TNHH THE S tại tòa người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn, ông Kim Điền P trình bày:
Năm 2016, công ty TNHH Vạn Hưng Đ nay Công ty TNHH THE S
bán vật nông nghiệp gồm phân, thuốc trừ sâu cho vợ chồng ông Đỗ Văn B
Trần Thị Mỹ N, việc mua bán lập sổ theo dõi. Đến ngày 20/6/2017, giữa
Công ty vợ chồng ông B tính sổ, ông B N thừa nhận còn nợ công ty
301.723.000 đồng. Khi xác nhận nợ, hai bên lập biên nhận ông B N
tên và cam kết ngày 30/8/2017 sẽ hoàn trả số tiền trên nhưng khi đến hạn, vợ
chồng ông B không thực hiện việc trả nợ. Tại đơn khởi kiện Công ty TNHH Vạn
Hưng Đ yêu cầu Tòa án buộc ông B N liên đới hoàn trả tiền còn nợ
281.723.000 đồng (đã trừ số tiền 20.000.000 đồng đã trả ngày 17/5/2018) và i
tạm tính đến ngày khởi kiện 143.950.053 đồng (lãi của 301.723.000 đồng tính
đến ngày 17/5/2018 là 55.094.619 đồng lãi của 281.723.000 đồng tính từ
ngày 17/5/2018 đến ngày khởi kiện 88.855.434 đồng). Tổng vốn lãi
425.673.053 đồng.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần nội
dung khởi kiện, nguyên đơn thống nhất chứng cứ bị đơn cung cấp Một tờ
giấy tập học sinh thể hiện nội dung chốt nợ, không tiêu đề, được ghi bằng mực
bút bi màu xanh, nội dung: “lãi 2% 20.06.17 Chú Út 23…”. Và đồng ý tiền vốn
bị đơn còn nợ tổng 166.448.000 đồng. Đồng ý thừa nhận vào ngày 20/6/2017
ông T nhận tiền lãi 30.000.000 đồng từ bị đơn ngày 17/5/2018 ông T
nhận tiền lãi 20.000.000 đồng từ bị đơn. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số
tiền vốn còn nợ 166.448.000 đồng. Yêu cầu tính lãi cụ thể:
- Số tiền vốn 14.765.000 đồng tính lãi từ ngày 01/6/2012 đến ngày
20/6/2017 (60 tháng 19 ngày), lãi 1,125%/tháng, tiền lãi là 11.190.639 đồng;
3
- Số tiền vốn 69.726.000 đồng tính lãi từ ngày 30/4/2012 đến ngày
20/6/2017 (61 tháng 20 ngày), lãi 1,125%/tháng, tiền lãi là 53.746.075 đồng;
- Số tiền vốn 10.860.000 đồng tính lãi từ ngày 17/9/2012 đến ngày
20/6/2017 (57 tháng 25 ngày), lãi 1,125%/tháng, tiền lãi là 7.859.925 đồng;
- Số tiền vốn 3.000.000 đồng tính lãi từ ngày 29/11/2012 đến ngày
20/6/2017 (54 tháng 20 ngày), lãi 1,125%/tháng, tiền lãi là 2.050.000 đồng;
- Số tiền vốn 14.000.000 đồng tính lãi từ ngày 15/5/2013 đến ngày
20/6/2017 (49 tháng 5 ngày), lãi 1,125%/tháng, tiền lãi là 8.604.000 đồng;
- Số tiền vốn 21.000.000 đồng tính i từ ngày 08/9/2013 đến ngày
20/6/2017 (45 tháng 12 ngày), lãi 1,125%/tháng, tiền lãi là 11.917.500 đồng;
- Số tiền vốn 14.488.000 đồng tính lãi từ ngày 24/4/2014 đến ngày
20/6/2017 (37 tháng 26 ngày), lãi 1,125%/tháng, tiền lãi là 6.856.700 đồng;
- Số tiền vốn 5.359.000 đồng tính lãi từ ngày 18/5/2016 đến ngày
20/6/2017 (13 tháng 2 ngày), lãi 1,125%/tháng, tiền lãi là 874.837 đồng;
- Số tiền vốn 3.100.000 đồng tính lãi từ ngày 28/12/2016 đến ngày
20/6/2017 (5 tháng 02 ngày), lãi 1,125%/tháng, tiền lãi là 195.750 đồng;
- Số tiền vốn 10.150.000 đồng tính lãi từ ngày 28/4/2017 đến ngày
20/6/2017 (01 tháng 28 ngày), lãi 1,125%/tháng, tiền lãi là 336.490 đồng;
- Số tiền vốn 166.448.000 đồng tính lãi từ ngày 21/6/2017 đến ngày Tòa án
xét xử (38 tháng), lãi 1,66%/tháng, tiền lãi là 104.995.398 đồng.
Tổng các khoản lãi là 208.627.028 đồng, đồng ý trừ đi số tiền lãi bị đơn đã
trả 50.000.000 đồng, bị đơn còn nợ lãi 158.627.028 đồng. Yêu cầu bị đơn trả
vốn và lãi tổng cộng 325.075.028 đồng (trong đó vốn 166.448.000 đồng, lãi
158.627.028 đồng).
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đỗ Văn B Trần Thị
Mỹ N là bà Phạm Ngọc N2 trình bày:
Bị đơn không đồng ý toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn công ty
TNHH MTV Vạn Hưng Đ do không giao dịch mua bán với công ty Vạn Hưng
Đ. Vợ chồng ông B, N mua nợ vật tư nông nghiệp của Nguyễn Thị N3
mẹ ruột ông T Giám đốc công ty Vạn Hưng Đ, mua bán từ năm 2012 đến năm
2017. Ngày 20/6/2017 ông Quốc T thay mặt N3 trực tiếp xuống nhà ông
B, bà N để chốt nợ vốn 166.448.000 đồng, trong ngày này bđơn trả vốn
30.000.000 đồng cho N3 do ông T nhận tiền trực tiếp. Sau khi nhận tiền ông
T kê lãi thêm, tổng gốc và lãi là 301.723.000 đồng. Trước giờ làm ăn không thỏa
thuận lãi suất. Nhưng khi chốt nợ ông T kê lãi nên bị đơn không đồng ý. Sau khi
chốt nợ xong, ông T yêu cầu ông B, bà N nhận nợ số tiền 166.448.000 đồng,
tiền nợ và lãi ông T tự ghi. Do sơ ý không coi kỹ nên bị đơn ông B, bà N ký giấy
nợ của ông T stiền 301.723.000 đồng, giấy do ông T đưa không nội
dung, sau khi do ông T tự ghi thêm. Thật sự bị đơn không nợ tiền của
công ty Vạn ng Đ. Đến ngày 17/5/2018 ông B, N trả thêm cho N3
4
20.000.000 đồng, ông T nhận trực tiếp. Tính đến nay đã trả được vốn
50.000.000 đồng cho N3. Hiện nay chỉ còn nợ N3 số tiền 116.448.000
đồng đồng ý trả cho N3 số tiền này nếu N3 khởi kiện. Riêng công ty
Vạn Hưng Đ yêu cầu bị đơn trnợ bị đơn không đồng ý toàn bộ do không
nợ của công ty Vạn Hưng Đ, yêu cầu Tòa án xem xét thời hiệu khởi kiện của
nguyên đơn.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2020 tại phiên tòa người đại diện
theo y quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn ThN3
ông Kim Điền P trình bày:
mruột của ông Quốc T Giám đốc công ty Vạn Hưng Đ, thời
gian không nhớ bà có thay mặt công ty bán phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho
ông B, N. Tuy người trực tiếp giao dịch nhưng hàng hóa đều của công
ty, bà chỉ thay công ty giao dịch mua bán với ông B, N, hiện ông B, N còn
nợ của công ty Vạn Hưng Đ tiền mua vật tư nông nghiệp chưa thanh toán. Số nợ
của ông B, bà N là nợ của công ty Vạn Hưng Đ, không phải nợ của bà.
* Sự việc được Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết.
Tại bản án thẩm số: 23/2020/DS-ST ngày 01 tháng 9 m 2020, đã quyết
định: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 91, Điều 147 khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều
430, Điều 440, Điều 357, Điều 468 Bluật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 305
khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên Vạn Hưng Đ nay ng ty TNHH THE S về việc đòi bị
đơn ông Đỗ Văn B, Trần Thị Mỹ N nghĩa vụ liên đới trả tiền mua vật
nông nghiệp còn nợ.
Buộc bị đơn ông Đỗ Văn B, bà Trần Thị Mỹ N nghĩa vụ liên đới trả cho
nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vạn Hưng Đ số tiền
còn nợ tổng cộng 314.956.730 đồng (ba trăm mười bốn triệu chín trăm năm
mươi sáu nghìn bảy trăm ba mươi đồng), trong đó vốn 166.448.000 đồng lãi
148.508.730 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm trả thông
báo quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
* Ngày 15 tháng 9 năm 2020, Phạm Ngọc N2 người đại diện theo ủy
quyền của các bị đơn ông ĐVăn B Trần Thị Mỹ N kháng cáo toàn bộ
bản án dân sự sơ thẩm số 23/2020/DS-ST, ngày 01/9/2020 của Tòa án nhân dân
huyện T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chấp nhận toàn bộ
nội dung khởi kiện của Công ty TNHH Vạn Hưng Đ nay là Công ty TNHH THE
S về việc yêu cầu ông Đỗ Văn B Trần Thị Mỹ N nghĩa vụ liên đới trả
5
số tiền nợ tổng cộng 314.956.730 đồng. Trong đó tiền vốn là 166.448.000 đồng
và lãi là 148.508.730 đồng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là
ông Kim Điền P không rút đơn khởi kiện người đại diện theo ủy quyền của
các bị đơn Phạm Ngọc N2 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo đã nêu
trong đơn xin xét xử vắng mặt. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tính n cứ
hợp pháp của kháng cáo, về việc tuân thủ chấp hành pháp luật tố tụng của
những người tiến hành ttụng tham gia ttụng trong qtrình giải quyết vụ
án giai đoạn phúc thẩm tại phiên tòa phúc thẩm; Đồng thời, phát biểu quan
điểm v nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần
kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của c bị đơn áp dụng khoản 2
Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm số 23/2020/DS-
ST, ngày 01/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án, được thẩm tra c
chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến phát biểu đề
nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[I] Về tố tụng:
[1] Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng
cáo của người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn Phạm Ngọc N2
đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự
năm 2015, nên kháng cáo hợp lệ và đúng theo luật định.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Công ty TNHH MTV Vạn Hưng
Đ (gọi tắt công ty Vạn Hưng Đ) nay Công ty TNHH THE S các bđơn
ông Đỗ Văn B và bà Trần Thị Mỹ N vắng mặt nhưng có người đại diện tham gia
phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn Phạm Ngọc N2
vắng mặt nhưng đơn xin xét xử vắng mặt; việc vắng mặt của họ không ảnh
hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
[II] Về nội dung:
[1] Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn bà
Phạm Ngọc N2 yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của Công ty TNHH MTV Vạn Hưng Đ nay là Công ty TNHH THE S
về việc yêu cầu ông B N liên đới trả nợ tổng cộng là 314.956.730 đồng.
Xét thấy:
[1.1] Theo đơn yêu cầu (về việc Ra quyết định đối chất với ông Quốc
T) đơn yêu cầu (về việc Ra quyết định trưng cầu giám định chữ viết của ông
Quốc T) đề cùng ngày 30/11/2020 của Phạm Ngọc N2 người đại diện
6
theo ủy quyền của các bị đơn. Xét thấy, ngày 20/6/2017 ông T đại diện Công ty
trực tiếp xuống nhà vợ chồng ông Đỗ Văn B và bà Trần Thị Mỹ N thỏa thuận nợ
với nội dung “ông B và bà N thừa nhận còn nợ số tiền 301.723.000 đồng, với lãi
suất 2%/tháng và vợ chồng ông bà đồng ý trả đủ số tiền trên cho ông Võ Quốc T
vào ngày 30/8/2017 và bút lục số 25 do bị đơn cung cấp và phía đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn cũng thừa nhận chứng cứ bị đơn cung cấp là “Một tờ giấy
tập học sinh thể hiện nội dung chốt nợ, không tiêu đề, được ghi bằng mực bút bi
màu xanh, nội dung: “lãi 2% 20.06.17 Chú B 23…”. Và đồng ý tiền vốn bị đơn
còn nợ tổng 166.448.000 đồng. Đồng ý thừa nhận vào ngày 20/6/2017 ông T
nhận tiền lãi 30.000.000 đồng từ bị đơn ngày 17/5/2018 ông T nhận
tiền lãi 20.000.000 đồng từ bị đơn. Do đó, cũng đủ căn cứ xác định các bị đơn
thừa nhận nợ vốn mua bán thức ăn là 166.448.000 đồng, nên việc người đại diện
theo y quyền của các bị đơn yêu cầu trên không cần thiết, nên Hội đồng xét
xử không chấp nhận.
[1.2] Ông Võ Quốc T đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 15/03/2012, lần thứ
4 ngày 21/03/2014 chuyển đổi tloại hình Doanh nghiệp nhân ATM T thành
Công ty TNHH Vạn Hưng Đ và lần thứ: 6, ngày 18/12/2020 chuyển đổi từ Công
ty TNHH Vạn Hưng Đ thành Công ty TNHH THE S, ông T chủ sở hữu
người đại diện theo pháp luật của Công ty, nên ông T quyền quyết định đối
với việc mua bán với ông B và bà N, còn việc bà Nguyễn Thị N3 là mẹ ông T
trực tiếp mua bán với ông B N thì cũng người phụ giúp cho ông T và
phía bà N3 trình bày bà thay công ty Vạn Hưng Đ để giao dịch với ông B, N,
việc ông B, N nợ nợ của công ty Vạn Hưng Đ nay Công ty TNHH THE
S, không phải nợ của . Do đó, ông T người đứng ra khởi kiện ông B
N là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[1.3] Về thời hiệu khởi kiện: Người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn
yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Xét thấy, tại Biên nhận nợ ngày 20/6/2017 bị đơn ông B, N
thỏa thuận ngày 30/8/2017 sẽ trả nợ cho nguyên đơn đến ngày 17/5/2018 thì
các bị đơn có trả cho ông T thêm 20.000.000 đồng. Do các bị đơn không tiếp tục
trả nợ, nên đến ngày 17/12/2019 nguyên đơn ng ty Vạn Hưng Đ đơn khởi
kiện để yêu cầu bị đơn trả nợ tính tngày thỏa thuận 30/8/2017 đến ngày
khởi kiện 17/12/2019 02 năm 03 tháng 17 ngày. Theo quy định tại Điều 429
Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
tranh chấp về hợp đồng 03 năm, ktừ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc
phải biết quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Do vậy, thời hiệu
khởi kiện trong vụ án vẫn còn. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của
đại diện theo ủy quyền của bị đơn về áp dụng thời hiệu khởi kiện là có căn cứ.
[2] Từ những phân tích nêu trên thì trong vụ án này nguyên đơn công ty
Vạn Hưng Đ nay là Công ty TNHH THE S do ông T là người đại diện theo pháp
luật khởi kiện là đúng, vụ án này vẫn còn thời hiệu khởi kiện và cũng không cần
“Ra quyết định đối chất với ông Quốc T” Ra quyết định trưng cầu giám
7
địmh chữ viết của ông Quốc T” theo đề nghị của người đại diện theo ủy
quyền của các bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án, nguyên đơn công ty Vạn Hưng Đ nay Công ty
TNHH THE S yêu cầu bị đơn ông B, N trả tiền mua vật tư nông nghiệp còn
nợ số tiền vốn 166.448.000 đồng tiền lãi 158.627.028 đồng. Người đại diện
theo ủy quyền của bị đơn không thừa nhận bị đơn ông B, bà N có nợ của công ty
Vạn Hưng Đ số tiền như nguyên đơn yêu cầu với do chỉ giao dịch mua bán
trực tiếp với Nguyễn Thị N3 thuộc Đại H, không mua phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật của công ty Vạn Hưng Đ, nên bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn công ty Vạn Hưng Đ.
[3.1] Xét chứng cứ đương sự cung cấp thì thấy, nguyên đơn cung cấp bản
chính Biên nhận nợ ngày 20/6/2017 có nội dung: ông B, bà N có ký nhận nợ với
công ty Vạn Hưng Đ số tiền 301.723.000 đồng với lãi suất 2%/tháng đồng ý
trả số tiền trên cho ông Quốc T vào ngày 30/8/2017, cuối biên nhận ông B,
N và ghi htên. Biên nhận nguyên đơn cung cấp được người đại
diện theo ủy quyền của bị đơn bà N2 thừa nhận là chữ ký của ông B và bà N, tuy
nhiên đại diện bị đơn lập luận, do sơ ý nên ông B, N đã đồng ý o biên
nhận nợ cho ông T, vào thời điểm ký biên nhận không ghi đầy đủ nội dung. Xét
thấy lập luận của người đại diện cho các bị đơn chưa đủ sở, nên cấp
thẩm xác định ngày 20/6/2017 giữa bị đơn ông B, N nguyên đơn công ty
Vạn ng Đ nay Công ty TNHH THE S do ông T làm Giám đốc đã chốt nợ
tại Biên nhận nợ ngày 20/6/2017 là sự thật.
[3.2] Chứng cứ bị đơn cung cấp 01 tờ giấy tập học sinh, không tiêu đề,
không chữ nhưng nội dung thhiện vào ngày 20/6/2017 hai bên chốt
nợ vốn 166.448.000 đồng (gồm 10 khoản nợ từ ngày 01/6/2012 đến ngày
28/4/2017), tiền lãi 165.275.000 đồng, lãi gởi 30.000.000 đồng, tổng còn nợ
301.723.000 đồng x 2%. Đại diện nguyên đơn đồng ý chứng cứ bị đơn cung cấp
yêu cầu tính lãi đối với từng khoàn nợ theo đúng chứng cứ bị đơn cung cấp.
Trong khi đại diện bị đơn trình bày tgiấy này do ông T viết toàn bộ, bị đơn
cung cấp mục đích chỉ để chứng minh bị đơn mua vật tư nông nghiệp của
N3 từ năm 2012, không phải mua của công ty Vạn Hưng Đ năm 2016 như đơn
kiện công ty đã u, ngoài ra chứng minh ông B, N còn nợ N3 tiền vốn
166.448.000 đồng đã trả vốn cho bà N3 30.000.000 đồng giao ông T nhận
trực tiếp, còn tiền lãi thì ông T tự ghi thêm vô nên bị đơn không đồng ý. Xét lập
luận của người đại diện cho các bị đơn như trên chưa sức thuyết phục
không có cơ sở, theo chứng cứ bị đơn cung cấp đã thể hiện ngày 20/6/2017 bị
đơn chốt nợ với ông T, tổng nợ vốn 166.448.000 đồng, nợ i 165.275.000
đồng, đã gửi lãi 30.000.000 đồng, n nợ lại 301.723.000 đồng. Tổng số tiền
chốt nợ 301.723.000 đồng là trùng khớp số tiền ông B, bà N đã chốt nợ với công
ty Vạn Hưng Đ nay Công ty TNHH THE S đã tên vào Biên nhận nợ
ngày 20/6/2017 do nguyên đơn cung cấp.
[3.3] Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở xác định bị đơn ông B, bà N nợ
công ty Vạn Hưng Đ nay là Công ty TNHH THE S số tiền mua phân bón, thuốc
8
bảo vệ thực vật từ năm 2012 đến năm 2017 tổng số tiền hai bên chốt nợ ngày
20/6/2017 tiền vốn là 166.448.000 đồng là sự thật, và nguyên đơn yêu cầu các bị
đơn có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ gốc có căn cứ, nên cấp sơ thẩm chấp
nhậnđúng.
[3.4] Đối với yêu cầu tính lãi chậm trả, nguyên đơn yêu cầu tính lãi trên
vốn gốc còn nợ theo từng khoản căn cứ theo chứng cứ bị đơn cung cấp đến ngày
xét xử thẩm, theo mức lãi suất 1,125% lãi suất 1,66%. Tổng các khoản lãi
là 208.627.028 đồng. Xét thấy:
[3.4.1] Theo thông lệ t kể từ ngày bên bán vật nông nghiệp cho bên
mua thì n mua trả tiền, nếu còn thiếu tđến hết vụ thu hoạch mới trả tiền đủ
một lần tại T thì từ năm 2012 đến năm 2017 ng năm chỉ làm hai v
lúa thu hoạch vụ thứ nhất khoảng tháng 6 vụ thu hoạch thứ hai khoảng
tháng 12 hàng năm, nên phía ông B N vi phạm nghĩa vụ đối với Công ty
kể từ các vthu hoạch lúa xong, n cấp thẩm tính lãi đối với các bđơn t
ngày mua vật tư là không phù hợp, mà tính lãi kể từ ngày vi phạm.
[3.4.2] Đối với lãi suất, cấp thẩm tính lãi từ ngày vi phạm đến ngày chốt
nợ ngày 20/6/2017 theo i suất 1,125%/tháng chưa phù hợp, khi mua n
thì không thỏa thuận lãi khi tính lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2
Điều 305 Bộ luật dân sự 2005 hoặc theo quy định tại Điều 357 khoản 2 Điều
468 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, cần điều chỉnh thời gian và mức lãi cụ thể
như sau:
- Số tiền vốn 84.491.000 đồng mua các ngày (30/4/2012 ngày
01/6/2012) tính lãi từ ngày 01/6/2012 đến ngày 20/6/2017 (60 tháng 19 ngày),
lãi 0,75%/tháng, tiền lãi 38.422.238 đồng;
- Số tiền vốn 13.860.000 đồng mua các ngày (17/9/2012 ngày
29/11/2012) tính lãi từ ngày 29/12/2012 đến ngày 20/6/2017 (53 tháng 21 ngày),
lãi 0,75%/tháng, tiền lãi 5.582.115 đồng;
- Số tiền vốn 35.000.000 đồng mua các ngày (15/5/2013 ngày
08/9/2013) tính lãi từ ngày 08/12/2013 đến ngày 20/6/2017 (42 tháng 12 ngày),
lãi 0,75%/tháng, tiền lãi 11.033.750 đồng;
- Số tiền vốn 14.488.000 đồng mua (ngày 24/4/2014) tính lãi từ ngày
24/6/2014 đến ngày 20/6/2017 (35 tháng 26 ngày), lãi 0,75%/tháng, tiền lãi
3.897.212 đồng;
- Số tiền vốn 5.359.000 đồng mua ngày (18/5) tính lãi từ ngày 18/6/2016
đến ngày 20/6/2017 (12 tháng 02 ngày), lãi 0,75%/tháng, tiền lãi 491.451
đồng;
- Số tiền vốn 13.250.000 đồng mua các ngày (18/12/2016 ngày
28/4/2017) đến ngày 20/6/2017 thì các bên thỏa thuận nợ, nên không tính lãi t
ngày 20/6/2017 trở về trước.
9
Tổng cộng vốn lãi [vốn 166.448.000 đồng lãi (38.422.238đ +
5.582.115đ + 11.033.750đ +3.897.212đ + 491.45 = 59.426.766)]
225.874.776 đồng 30.000.000 đồng (đã trả lãi ngày 20/6/2017)= 195.874.776
đồng (vốn 166.448.000đ và 29.426.776đ).
- Số tiền vốn 166.448.000 đồng tính lãi từ ngày 21/6/2017 đến ngày
17/5/2018 (27 tháng 14 ngày), lãi 1,66%/tháng, tiền lãi là 75.891.389 đồng.
Tổng cộng vốn lãi (195.874.776 đ + 75.891.389đ) = 271.766.165 đồng,
khấu trừ 20.000.000 đồng (đã trả lãi ngày 17/5/2018)= 251.766.165 đồng (vốn
166.448.000đ 85.318.165đ).
- Số tiền vốn 166.448.000 đồng tính lãi từ ngày 17/5/2018 đến ngày Tòa án
xét xử (10 tháng 27 ngày), lãi 1,66%/tháng, tiền lãi là 30.117.092 đồng.
Tổng cộng vốn lãi 281.883.257 đồng các bđơn ông B, N nghĩa vụ
liên đới trả cho nguyên đơn (vốn 166.448.000đ và lãi 115.435.257đ).
[3.4.3] Như nhận định trên thì đại diện nguyên đơn yêu cầu trả tiền lãi vượt
quy định, nên nguyên đơn bị bác yêu cầu về phần lãi chênh lệch 33.073.455
đồng.
[5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xquyết định chấp nhận
một phần kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn; căn cứ
vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa một phần bản án sơ
thẩm về những nội dung đã phân tích nêu trên.
[6] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét
xử n cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án
thẩm là có căn cứ như nhận định trên.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do án sơ thẩm bị sửa nên các đương sự phải
chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân s khoản
1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường v
Quốc hội.
[8] Về án phí dân sphúc thẩm: Do bản án thẩm bị sửa nên các bị đơn
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 khoản 6 Điều 313 Bộ luật
Tố tụng Dân sự năm 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của các
bị đơn.
10
Sửa bản án thẩm số 23/2020/DS-ST ngày 01 tháng 9 năm 2020 của Tòa
án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng, như sau: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148
của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 khoản 2 Điều 26
khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của y Ban Thường Vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên Vạn Hưng Đ nay là Công ty TNHH THE S về
việc yêu cầu các bị đơn ông Đn B, Trần Thị Mỹ N nghĩa vụ liên đới
trả tiền mua vật tư nông nghiệp còn nợ.
Buộc bị đơn ông Đỗ Văn B, bà Trần Thị Mỹ N nghĩa vụ liên đới trả cho
nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vạn Hưng Đ nay
Công ty TNHH THE S stiền còn nợ tổng cộng 281.883.257 đồng (Hai trăm
tám mười mốt triệu tám trăm tám mươi ba nghìn hai trăm năm mươi bảy đồng),
trong đó vốn 166.448.000 đồng và lãi 115.435.257 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi nh án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Bác yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vạn Hưng
Đ nay Công ty TNHH THE S yêu cầu các bị đơn ông Đỗ Văn B Trần
Thị Mỹ N liên đới trả phần lãi chênh lệch 33.073.455 đồng (Ba mươi ba triệu
không trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi năm đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Buộc bị đơn ông Đỗ Văn B, Trần Thị Mỹ N nghĩa vụ liên đới
phải nộp tiền án phí sơ thẩm số tiền 14.094.162 đồng (Mười bốn triệu không
trăm chín mươi bốn nghìn, một trăm sáu mươi hai đồng).
3.2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vạn Hưng Đ nay
Công ty TNHH THE S phải chịu án phí 1.653.672 đồng (Một triệu sáu trăm
năm mươi ba nghìn sáu trăm bảy mươi hai đồng), nhưng được khấu trừ vào số
tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.513.000 đồng (Mười triệu năm trăm mười ba
nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009914 ngày 15/01/2020 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Hoàn trả cho nguyên đơn Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên Vạn Hưng Đ nay Công ty TNHH THE S tiền
tạm ứng án phí đã nộp 8.859.328 đồng (Tám triệu tám trăm năm ơi chín
nghìn ba trăm hai mươi tám đồng) theo biên lai thu số 0009914 ngày 15/01/2020
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3. Án phí n sự phúc thẩm: Các bị đơn ông Đỗ n B Trần Thị Mỹ
N không phải chịu, hoàn trả cho ông ĐVăn B Trần Thị Mỹ N do
11
Phạm Ngọc N2 nộp thay số tiền tạm ứng đã nộp của mỗi người 300.000đồng
(ba trăm nghìn đồng) theo các Biên lai thu số 0003259 (ông B) 0003258 (bà
N) cùng ngày 21/9/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Sóc
Trăng.
Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành
án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a Điều 9 Luật thi hành án dân sự.
Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh c Trăng (01);
- TAND huyn T (01);
- Chi cc THADS huyn T (01); (Đã ký)
- Lưu HSVA, VP.
Hồ Văn Phụng
Tải về
Bản án số 152/2020/DS-PT Bản án số 152/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất